Tất cả các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải làm quen và tuân thủ hệ thống thuế nhà thầu nước ngoài (FCT) độc đáo của đất nước. Bài viết này là một hướng dẫn ngắn gọn cho các chủ doanh nghiệp để xác định FCT phù hợp cho công ty của họ và phương thức thanh toán nào họ nên chọn.
Thuế Nhà Thầu Nước Ngoài Là Gì?
Một trong những bài viết của chúng tôi đã đề cập đến kiến thức cơ bản về nhà thầu nước ngoài và FCT tại Việt Nam (Bạn có thể xem tại đây). Tóm lại, FCT thường bao gồm sự kết hợp giữa thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT) đối với các tổ chức nước ngoài, hoặc thuế thu nhập cá nhân (PIT) đối với thu nhập của cá nhân nước ngoài.
Các Phương Thức Thanh Toán FCT
Một nhà thầu nước ngoài có thể thanh toán thuế theo một trong ba cách: Phương thức Khai báo, Phương thức Trực tiếp hoặc Phương thức “Kết hợp”.
Phương thức Khai báo áp dụng cho một nhà thầu nước ngoài nếu (i) họ có cơ sở thường trú (“PE”) tại Việt Nam; (ii) hợp đồng có thời hạn từ 183 ngày trở lên kể từ ngày có hiệu lực của hợp đồng; và (iii) họ áp dụng Hệ thống Kế toán Việt Nam (“VAS”), nộp đơn đăng ký thuế với cơ quan thuế và nhận mã số thuế.
Phương thức Trực tiếp áp dụng cho một nhà thầu nước ngoài nếu họ không đáp ứng bất kỳ một trong các điều kiện trên. Một nhà thầu nước ngoài có thể chọn áp dụng Phương thức Kết hợp nếu họ đáp ứng tất cả ba điều kiện sau: (i) họ có PE tại Việt Nam; (ii) hợp đồng có thời hạn ít nhất 183 ngày kể từ ngày có hiệu lực của hợp đồng; và (iii) họ duy trì hồ sơ kế toán theo quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính Việt Nam.
Phương Thức Khai Báo
Phương pháp tính FCT, sử dụng Phương thức Khai báo và thuế phát sinh, về cơ bản giống như phương pháp tính và thuế mà một thực thể Việt Nam đăng ký kinh doanh tại Việt Nam phải trả. VAT mà họ phải trả là giống nhau, và CIT mà họ phải trả, được tính trên lợi nhuận ròng, cũng giống nhau.
VAT theo Phương Thức Khai Báo
VAT phải nộp được tính và khấu trừ theo công thức sau:
VAT phải nộp = VAT đầu ra – VAT đầu vào được khấu trừ
VAT đầu ra là tổng VAT mà một nhà thầu nước ngoài thu dựa trên các hóa đơn mà họ phát hành. Cụ thể hơn, VAT đầu ra là tổng VAT áp dụng cho hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán. Nó được tính bằng cách nhân giá bán chịu thuế của hàng hóa bán hoặc dịch vụ cung cấp bởi nhà thầu nước ngoài cho bên đối tác Việt Nam với tỷ lệ VAT áp dụng. Đối với hàng hóa nhập khẩu, VAT được tính trên giá trị thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), và thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
VAT đầu vào được khấu trừ là tổng VAT mà một nhà thầu nước ngoài phải trả dựa trên các hóa đơn mà họ nhận được. VAT đầu vào được khấu trừ bằng giá bán chịu thuế của hàng hóa bán hoặc dịch vụ cung cấp bởi bên bán cho nhà thầu nước ngoài nhân với tỷ lệ VAT áp dụng. Đối với các giao dịch trong nước, VAT đầu vào dựa trên hóa đơn VAT. Đối với hàng hóa nhập khẩu, VAT đầu vào dựa trên các tài liệu thanh toán VAT (được trình cho Cục Hải quan).
Các mức thuế VAT khác nhau tùy thuộc vào loại hàng hóa bán và dịch vụ do nhà thầu nước ngoài cung cấp. Có ba mức thuế VAT: 0%, 5% và 10%.
CIT theo Phương Thức Khai Báo
CIT phải nộp ngoài VAT, và được xác định theo công thức sau:
CIT phải nộp = Thu nhập chịu thuế x Tỷ lệ CIT
Thu nhập chịu thuế = Thu nhập chịu thuế – [Thu nhập miễn thuế + Lỗ chuyển tiếp]
Thu nhập miễn thuế là thu nhập được miễn thuế và được liệt kê là ‘thu nhập miễn thuế’ trong LCIT. Thu nhập miễn thuế thường là thu nhập từ các lĩnh vực kinh doanh hoặc hoạt động đầu tư được khuyến khích, chẳng hạn như thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, hoặc thu nhập từ việc thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hoặc thu nhập từ đầu tư vào các khu vực địa lý ưu đãi.
Lỗ chuyển tiếp là lỗ mà một doanh nghiệp phải chịu sau khi hoàn tất quyết toán thuế cho bất kỳ năm tài chính nào. Các khoản lỗ có thể được chuyển tiếp sang năm tài chính tiếp theo và bù trừ với thu nhập chịu thuế trong năm đó. Các khoản lỗ không thể được chuyển tiếp quá năm năm.
Thu nhập chịu thuế là thu nhập kiếm được từ hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh và từ các thu nhập khác phát sinh từ lợi nhuận vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn, hoặc chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền khai thác, khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên hoặc chuyển nhượng bất động sản, v.v.
Thu nhập chịu thuế được tính theo công thức sau:
Thu nhập chịu thuế = [Doanh thu – Chi phí được khấu trừ] + thu nhập khác
Doanh thu là tổng doanh thu, không bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Chi phí được khấu trừ là các chi phí thực tế liên quan đến sản xuất hoặc kinh doanh ngoại trừ ‘chi phí không được khấu trừ’ như được định nghĩa trong LCIT. Để đủ điều kiện, các chi phí được khấu trừ phải tuân thủ quy định của LCIT, thanh toán phải được thực hiện qua chuyển khoản ngân hàng (trong trường hợp thanh toán vượt quá 20.000.000 VND), và cần có tài liệu hỗ trợ.
Tỷ lệ CIT tiêu chuẩn là 20%. Tỷ lệ áp dụng cho các lĩnh vực hoặc địa điểm được khuyến khích là thấp hơn. Ví dụ, các công ty hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, và các vấn đề môi trường được hưởng tỷ lệ CIT chỉ 10%.
Phương Thức Trực Tiếp
Ngược lại với Phương thức Khai báo, Phương thức Trực tiếp dựa vào doanh thu để tính toán FCT.
Khi Phương thức Trực tiếp được áp dụng, luật yêu cầu bên đối tác Việt Nam phải khấu trừ FCT. Nghĩa là, trước khi thực hiện thanh toán cho một nhà thầu nước ngoài, bên đối tác Việt Nam phải trừ thuế từ khoản thanh toán, sau đó họ sẽ nộp cho cơ quan thuế thay mặt cho nhà thầu nước ngoài.
VAT theo Phương Thức Trực Tiếp
VAT phải nộp = Doanh thu chịu thuế VAT x Tỷ lệ VAT tính theo phần trăm của thu nhập chịu thuế
Doanh thu chịu thuế VAT là tổng doanh thu mà không trừ bất kỳ thuế nào phải nộp. Nó bao gồm các chi phí mà bên đối tác Việt Nam đã thanh toán thay cho nhà thầu nước ngoài;
Doanh thu chịu thuế VAT không bao gồm bất kỳ khoản thanh toán nào mà nhà thầu nước ngoài đã thực hiện cho một nhà thầu phụ Việt Nam hoặc một nhà thầu nước ngoài áp dụng Phương thức Khai báo hoặc Phương thức Kết hợp;
Tùy thuộc vào hàng hóa và dịch vụ do nhà thầu nước ngoài cung cấp, tỷ lệ VAT tính theo phần trăm của thu nhập chịu thuế có thể là 2%, 3% hoặc 5%.
CIT theo Phương Thức Trực Tiếp
CIT phải nộp = Doanh thu chịu thuế CIT x Tỷ lệ CIT tính theo phần trăm của doanh thu chịu thuế
Doanh thu chịu thuế CIT là tổng doanh thu, không bao gồm VAT, mà không trừ bất kỳ thuế nào phải nộp. Doanh thu chịu thuế CIT bao gồm tất cả các chi phí mà bên đối tác Việt Nam đã thanh toán thay cho nhà thầu nước ngoài, nhưng không bao gồm khoản thanh toán mà nhà thầu nước ngoài đã thực hiện cho một nhà thầu phụ Việt Nam hoặc một nhà thầu nước ngoài áp dụng Phương thức Khai báo hoặc Phương thức Kết hợp.
Tỷ lệ CIT tính theo phần trăm của doanh thu chịu thuế được quy định trong Thông tư 103. Tỷ lệ 0,1% áp dụng cho việc chuyển nhượng chứng khoán, tái bảo hiểm ở nước ngoài, hoa hồng cho việc chuyển nhượng tái bảo hiểm; tỷ lệ 1% áp dụng cho giao dịch, phân phối, và cung cấp hàng hóa, vật liệu, máy móc, và thiết bị; phân phối, cung cấp hàng hóa, vật liệu, máy móc, và thiết bị kèm theo dịch vụ tại Việt Nam (bao gồm cả xuất nhập khẩu trong nước và nhập khẩu); cung cấp hàng hóa theo Incoterms; tỷ lệ 2% áp dụng cho xây dựng, lắp đặt, và dịch vụ tài chính phái sinh; tỷ lệ 5% áp dụng cho dịch vụ, cho thuê thiết bị, bảo hiểm, cho thuê giàn khoan, và lãi suất vay; tỷ lệ 10% áp dụng cho dịch vụ bản quyền, quản lý nhà hàng, khách sạn, và casino, v.v.
Phương Thức “Kết Hợp”
Các Phương thức Khai báo và Trực tiếp không phải là những lựa chọn duy nhất dành cho một nhà thầu nước ngoài. Phương thức “Kết hợp” cho phép một nhà thầu nước ngoài thanh toán CIT bằng Phương thức Trực tiếp và VAT bằng Phương thức Khai báo.
Các Lưu Ý Dành Cho Các Nhà Đầu Tư Nước Ngoài
Các nhà thầu nước ngoài áp dụng Phương thức Trực tiếp thường yêu cầu bên đối tác Việt Nam thanh toán bất kỳ khoản nào đến hạn “sau khi đã trừ tất cả thuế”. Trong những trường hợp như vậy, giá hợp đồng được tính gộp và số tiền bị khấu trừ thực sự trở thành một chi phí của bên đối tác Việt Nam. Cơ chế này liên quan đến một khoản thanh toán tổng hợp lớn hơn cho giá hợp đồng và FCT. Tuy nhiên, có một lợi ích cho bên đối tác Việt Nam nếu thanh toán được thực hiện theo phương thức khấu trừ và nghĩa vụ FCT được chuyển giao cho bên đối tác Việt Nam. Nghĩa là, phần VAT mà bên đối tác Việt Nam thanh toán thay cho nhà thầu nước ngoài là VAT đầu vào của bên đối tác Việt Nam. Họ có thể khấu trừ VAT đầu vào của họ với VAT đầu ra của chính họ, do đó hiệu quả là bù trừ phần VAT của FCT. Điều này thực sự làm giảm tác động ròng tổng thể của FCT. Tuy nhiên, bằng cách thanh toán số tiền ròng cho nhà thầu nước ngoài, tổng số tiền gộp mà bên đối tác Việt Nam thanh toán có thể sẽ cao hơn. Các lợi ích và bất lợi tương đối của việc thực hiện thanh toán cho nhà thầu nước ngoài sau khi đã trừ thuế cần được đánh giá và có thể được phân bổ.
Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Tuy nhiên, các lựa chọn không mở cho tất cả các nhà thầu nước ngoài. Mỗi nhà thầu nước ngoài có sự lựa chọn sẽ phải quyết định phương thức nào để áp dụng.
Theo tính chất của các dự án và dịch vụ, một nhà thầu nước ngoài có thể muốn chọn một phương thức phù hợp để giảm thiểu nghĩa vụ thuế của mình. Phương thức Khai báo và Phương thức Kết hợp thường được áp dụng cho một dự án nếu có số lượng lớn VAT đầu vào cần được bù trừ với VAT đầu ra và nếu dự án có thể kéo dài trong một thời gian dài.
Nếu bạn vẫn không thể quyết định phương thức nào là phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình, đừng ngần ngại liên hệ với Viettonkin để được tư vấn dịch vụ tốt nhất tại Việt Nam. Với nhiều dịch vụ và giải pháp chất lượng cao, Viettonkin tự tin trở thành người bạn đồng hành đáng tin cậy nhất của bạn trong suốt quá trình khởi nghiệp, giúp bạn xử lý những công việc và vấn đề tốn thời gian như FCT và nhiều hơn nữa. Tìm hiểu thêm về chúng tôi tại đây.