Theo thống kê chính thức của chính phủ từ năm 2019, các bộ, cơ quan và tỉnh đã ký kết và thực hiện 336 dự án PPP, với tổng vốn đầu tư là 1.609.335 tỷ đồng (khoảng 70 tỷ USD). Phần lớn các dự án PPP tập trung vào lĩnh vực giao thông (220 dự án); nhà ở tái định cư, ký túc xá, v.v. (32 dự án); tòa nhà văn phòng (20 dự án); năng lượng (18 dự án); cũng như cung cấp nước, thoát nước, môi trường (18 dự án).
Vào ngày 18 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đối tác công tư (Luật PPP), nhằm thu hút thêm đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng của Việt Nam. Luật PPP có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021, và thay thế các quy định PPP trước đó theo Nghị định 63/2018/ND-CP ngày 4 tháng 5 năm 2018 (Nghị định 63). Một số thay đổi chính theo Luật, một số tích cực và một số ít tích cực hơn, liên quan đến việc làm cho khung PPP hấp dẫn hơn đối với các nhà phát triển, nhà đầu tư và cho vay từ khu vực tư nhân.
Các lĩnh vực đủ điều kiện cho các dự án PPP
Luật PPP đã thu hẹp các lĩnh vực đủ điều kiện cho các dự án PPP (Các lĩnh vực được phép). Các lĩnh vực được quy định hiện nay như sau:
(i) giao thông;
(ii) nhà máy điện và đường dây truyền tải điện, trừ các nhà máy thủy điện và các trường hợp độc quyền của Nhà nước theo Luật Điện lực;
(iii) công trình thủy lợi, cung cấp nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải, và xử lý chất thải;
(iv) y tế, giáo dục và đào tạo; và,
(v) hạ tầng công nghệ thông tin.
Các mô hình đầu tư
Theo thông lệ quốc tế, Luật PPP không còn công nhận mô hình Xây dựng-Chuyển giao (BT) của đầu tư PPP, theo đó các nhà đầu tư có thể thu hồi vốn đầu tư của mình bằng cách đổi các dự án BT lấy quyền sử dụng đất để sử dụng cho các dự án khác. Tất cả các dự án BT chưa được phê duyệt và cấp Giấy chứng nhận phê duyệt nguyên tắc của kế hoạch đầu tư (AIP) phải dừng lại từ ngày 15 tháng 8 năm 2020, và không có dự án BT mới nào sẽ được xem xét trong tương lai. Việc loại bỏ này sẽ ảnh hưởng đến một số dự án bất động sản liên quan đến dự án BT.
Do đó, hiện nay có bảy loại mô hình đầu tư PPP được phép: Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao (BOT), Xây dựng-Chuyển giao-Vận hành (BTO), Xây dựng-Sở hữu-Vận hành (BOO), Vận hành và Bảo trì (O&M), Xây dựng-Chuyển giao-Cho thuê (BTL), Xây dựng-Cho thuê-Chuyển giao (BLT), và các hợp đồng hỗn hợp kết hợp (a) BOT, BTO, BOO hoặc O&M và (b) BTL hoặc BLT.
Xét về các loại hợp đồng chính, các hình thức BOT và BT chiếm ưu thế, chiếm hơn 95% các dự án PPP. BOO và BLT ít phổ biến hơn. Khi thảo luận về các loại hợp đồng PPP với một ngân hàng thương mại lớn trong nước, đã lưu ý rằng họ chỉ quan tâm đến việc tài trợ cho các dự án BT, nơi có đất làm tài sản thế chấp.

Vốn đầu tư
Luật PPP quy định các yêu cầu về vốn đầu tư tối thiểu cho các dự án PPP như sau, với Bộ Kế hoạch và Đầu tư lưu ý trong các diễn đàn về sự ưu tiên cho các dự án quy mô lớn hơn:
(i) 100 tỷ đồng (khoảng 4,35 triệu USD) cho các dự án PPP trong lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo;
(ii) 200 tỷ đồng (khoảng 8,7 triệu USD) trong các lĩnh vực được phép khác, nhưng 100 tỷ đồng nếu các dự án nằm trong các khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc điều kiện kinh tế – xã hội cực kỳ khó khăn (như được định nghĩa trong Luật Đầu tư); và,
(iii) không yêu cầu vốn đầu tư tối thiểu cho các dự án PPP thực hiện theo hợp đồng Vận hành và Bảo trì (O&M).
Tham gia vốn trong dự án PPP
Giống như Nghị định 63, hỗ trợ của Chính phủ có thể đến từ nhiều hình thức và Luật PPP quy định các mục đích sử dụng vốn góp của nhà nước cho một dự án PPP như sau: (có tổng cộng 6 mục) với hai mục đầu tiên:
(i) hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình và hệ thống hạ tầng cho một dự án PPP;
(ii) thanh toán cho việc giải phóng mặt bằng, bồi thường và tái định cư, và hỗ trợ xây dựng các công trình tạm thời;
Vốn góp của nhà nước bị giới hạn không quá 50% tổng vốn đầu tư cho các mục đích (i) và (ii) nêu trên. Đối với các dự án có nhiều dự án thành phần, bao gồm các dự án thành phần PPP, tỷ lệ vốn góp của nhà nước sẽ được xác định trên tổng vốn đầu tư của các thành phần đó.
Theo Luật PPP, vốn góp cổ phần của các nhà đầu tư tư nhân trong một dự án PPP phải ít nhất 15% tổng vốn đầu tư. Bất kỳ vốn góp nào từ Nhà nước không được tính vào vốn đầu tư nhằm xác định vốn cổ phần mà các nhà đầu tư tư nhân phải góp. Các yêu cầu này nhẹ nhàng hơn so với các yêu cầu theo Nghị định 63, yêu cầu vốn góp cổ phần ít nhất 20% tổng vốn đầu tư cho các dự án PPP có vốn đầu tư lên đến 1,5 triệu tỷ đồng (tương đương 64,7 triệu USD) cộng với ít nhất 10% của phần vốn đầu tư nào vượt quá 1,5 triệu tỷ đồng.
Khác với người tiền nhiệm, Luật PPP quy định một khoảng thời gian cho việc góp vốn vào một công ty dự án. Các nhà đầu tư và công ty dự án sẽ chịu trách nhiệm góp vốn cổ phần và huy động các khoản vay và nguồn vốn khác để thực hiện dự án PPP trong vòng 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng PPP. Thời gian này có thể được gia hạn tối đa 18 tháng đối với các dự án có AIP được cấp bởi Quốc hội hoặc Thủ tướng. Tuy nhiên, Luật PPP vẫn im lặng về việc liệu vốn cổ phần yêu cầu có thể được góp theo từng giai đoạn hoặc theo tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần đã thỏa thuận với các khoản vay trong suốt thời gian xây dựng. Khía cạnh này dự kiến sẽ được giải quyết trong các quy định hướng dẫn và thực hiện sắp tới về Luật PPP.