Việt Nam có tiềm năng phát triển xe điện, nhưng vẫn còn nhiều lo ngại về cơ sở hạ tầng, tiêu chuẩn cho xe điện, sự an toàn của điện và pin trong quá trình sử dụng. 3 kịch bản điện khí hóa trong giao thông
Hội thảo trực tuyến: “Tương lai phát triển xe điện tại Việt Nam” vừa diễn ra, TS. Nguyễn Quốc Khánh, chuyên gia năng lượng, đại diện nhóm nghiên cứu “Phát triển xe điện: Dự báo xu hướng và tác động đối với Việt Nam”, trong giai đoạn 2010-2019, số lượng hành khách lưu thông tăng 9%/năm. Trong giai đoạn 2014-2020, mỗi năm, trung bình có 5,14 triệu xe máy, 255.000 ô tô và 250.000 xe máy điện được đăng ký mới,
Trong đó, tiêu thụ năng lượng giao thông chiếm 21,4% tổng tiêu thụ quốc gia vào năm 2014, tăng 4,9% trong giai đoạn 2014-2019, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của toàn ngành là 3,4%. Tổng lượng khí thải là 33,2 triệu tấn, chiếm 19,3% lượng khí thải từ lĩnh vực năng lượng.
“Tuy nhiên, trong quy hoạch và chiến lược phát triển giao thông, chỉ quy định về cơ sở hạ tầng, mà không xem xét đến phương tiện vận chuyển,” TS. Nguyễn Quốc Khánh cho biết. Đối với kịch bản điện khí hóa trong giao thông, ông Khánh cho biết có 3 kịch bản chính: kịch bản cơ sở, kịch bản phát triển trung bình và kịch bản cao.
Dưới kịch bản cơ sở, tỷ lệ xe điện sẽ thấp, chủ yếu là xe máy điện, tỷ lệ xe máy điện sẽ chiếm 18% số xe máy mới bán ra vào năm 2030 và 40% vào năm 2050.

Trong kịch bản phát triển trung bình, tỷ lệ xe máy điện sẽ chiếm 34% số xe máy mới bán ra vào năm 2030 và 65% vào năm 2050. Xe ô tô điện sẽ chiếm 30% số ô tô mới bán ra vào năm 2030.
Trong kịch bản cao, xe điện sẽ chiếm 72% số xe mới bán ra vào năm 2030, 100% vào năm 2050; ô tô sẽ chiếm 30% vào năm 2030, 70% vào năm 2050; xe buýt chiếm 10% vào năm 2030, 30% vào năm 2050; xe bán tải, xe tải nhẹ và trung bình chiếm 5% vào năm 2030 và 30% vào năm 2050.
Nhu cầu về điện trong tương lai gần thực sự rất lớn
Cũng theo phân tích của TS. Nguyễn Quốc Khánh, với kịch bản 2, nhu cầu điện vào năm 2030 trong ngành giao thông khoảng 3,99 tỷ kWh, tương đương với sản lượng điện của một nửa Nhà máy Thủy điện Hòa Bình; đến năm 2050, con số này là 17,57 tỷ kWh, tương đương với 2 Nhà máy thủy điện Hòa Bình
Với kịch bản 3, nhu cầu điện cho ngành giao thông khoảng 8,48 tỷ kWh vào năm 2030, tương đương với Nhà máy Thủy điện Hòa Bình; con số này tăng lên 71,87 tỷ kWh vào năm 2050, tương đương với 10 Nhà máy Thủy điện Hòa Bình. Về kết quả khí thải nhà kính, theo tính toán của nhóm nghiên cứu, với kịch bản 2, khí thải nhà kính sẽ giảm 1,8% vào năm 2030 và 4,7% vào năm 2050 nếu cơ cấu nguồn điện như trong Quy hoạch điện VIII vẫn giữ nguyên. Kịch bản 3 sẽ giảm khí thải nhà kính 3,3% vào năm 2030 và 13,6% vào năm 2050 nếu cơ cấu nguồn điện như trong Quy hoạch điện VIII vẫn giữ nguyên.
Nói về cơ sở hạ tầng cho xe điện, theo TS. Nguyễn Đức Tuyến (Đại học Khoa học và Công nghệ), hiện tại, ngoài 200 trạm sạc của Vinfast, Việt Nam gần như không có cơ sở hạ tầng cho phát triển xe điện; tiêu chuẩn của Việt Nam cho phát triển loại phương tiện này hiện chưa có và không đồng nhất.
Để có cơ sở thúc đẩy phát triển xe điện tại Việt Nam, ông Tuyến cho biết, cần hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật, như yêu cầu kỹ thuật và an toàn điện với hệ thống sạc nhanh, thay thế pin và ắc quy… Đồng thời, tối ưu hóa các trạm sạc và vị trí sạc pin bằng cách sử dụng nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, và quản lý cân bằng công suất lưới điện.
“Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ trực tiếp giá mua xe, thuế, chi phí sạc, và lắp đặt trạm sạc tại nhà, thuế cao đối với khí thải. Thậm chí, cần có khu vực riêng cho xe điện, giống như cho các phương tiện BRT hiện tại”, ông Tuyến cho biết.
Nguồn : Nhipcaudautu