Đi đến nội dung
Viettonkin
Phân tích ngành

Tiềm năng trong Chuỗi Lạnh tại Việt Nam

Chuỗi lạnh đã thu hút sự quan tâm ngày càng tăng ở Việt Nam trong vài năm qua. Thuật ngữ này được đặt ra để định nghĩa khả…

David Lang Tác giả Founder & CEO, Viettonkin; FDI and Fortune 500 Consultant
· · Đọc trong 15 phút

Chuỗi lạnh đã thu hút sự quan tâm ngày càng tăng ở Việt Nam trong vài năm qua. Thuật ngữ này được đặt ra để định nghĩa khả năng của một chuỗi cung ứng trong việc kiểm soát và duy trì nhiệt độ phù hợp cho các hàng hóa riêng biệt với các yêu cầu lưu trữ lạnh khác nhau, từ đó đảm bảo chất lượng và kéo dài thời gian sử dụng của hàng hóa. Hiện tại, chuỗi lạnh được áp dụng trong các ngành dược phẩm và hóa chất, bán lẻ, và thực phẩm, bao gồm các sản phẩm nông sản tươi, hải sản, thực phẩm đông lạnh, và hoa tươi cắt, trong số những thứ khác.

kholanh aldv

Nhu cầu

Vì chuỗi lạnh hiện đang là phân khúc hấp dẫn nhất trong ngành logistics, nhu cầu cho nó đang bùng nổ. Theo Bộ Công Thương, phần lớn các dịch vụ kho lạnh đang hoạt động với hơn 90% công suất. Một số báo cáo thị trường Việt Nam cũng xác nhận rằng nhu cầu cho chuỗi lạnh sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ ít nhất trong nửa thế kỷ tới. Điều này có thể được quy cho sự bùng nổ của thương mại điện tử cùng với sự thay đổi đáng kể trong hành vi tiêu dùng của khách hàng hướng tới tiêu dùng hữu cơ. Không nghi ngờ gì, không gian thị trường chứa đựng nhiều cơ hội cũng như tiềm năng để thu hút đầu tư vào chuỗi lạnh trong tình hình bình thường mới.

Thêm vào đó, sự gia tăng khối lượng xuất khẩu của Việt Nam sau Covid-19 góp phần vào sự phát triển của chuỗi lạnh. Thương mại song phương qua biên giới giữa Lào/Campuchia và Việt Nam – một trung tâm chế biến/logistics nông sản tiềm năng cho các nhà cung cấp sẽ thúc đẩy sự phát triển hứa hẹn của chuỗi lạnh. Do đó, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP và UKVFTA sẽ kích thích nhu cầu xuất khẩu cho các sản phẩm nông sản và thủy sản đến các thị trường châu Âu khó tính cùng với việc tăng nhu cầu cho các hệ thống kho lạnh.

Khi nói đến xuất khẩu hải sản, hải sản Việt Nam đứng thứ ba về khối lượng xuất khẩu trên thế giới, chiếm diện tích lớn nhất của kho lạnh. Theo ông Trương Đình Hoe – Tổng thư ký Hiệp hội Xuất khẩu và Chế biến Thủy sản Việt Nam (VASEP), hệ thống kho lạnh là một liên kết cốt lõi cho cả chuỗi sản xuất và xuất khẩu hải sản Việt Nam. Hiện tại, hệ thống này ở Việt Nam chỉ đáp ứng 30-35% nhu cầu bảo quản thực phẩm, nông sản và thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn). Đặc biệt trong giai đoạn cao điểm của Covid-19, khoảng 30-50% đơn hàng xuất khẩu hải sản đã bị hủy, dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong tồn kho và công suất tối đa của kho lạnh. Trong tình hình như vậy, một số nhà sản xuất hải sản đã có ý định đầu tư vào kho lạnh để cải thiện sản xuất và bảo quản. Tuy nhiên, trên thực tế, ít doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn và vốn đối ứng dồi dào thực sự thực hiện kế hoạch, trong khi phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm kiếm dịch vụ chuỗi lạnh từ các nhà cung cấp. Thật đáng buồn, nguồn cung của những dịch vụ này đang thiếu hụt trầm trọng.

Về trái cây và rau củ, Việt Nam được công nhận là một trong những nước xuất khẩu rau củ và trái cây lớn nhất thế giới nhờ vào nhu cầu mạnh mẽ từ Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Nga, Indonesia, Đài Loan và Hàn Quốc. Các nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có hơn 8% các nhà sản xuất và nhà cung cấp cho thị trường nội địa áp dụng chuỗi lạnh để bảo quản sản phẩm. Con số này là không đáng kể, cho thấy tỷ lệ hư hỏng sau thu hoạch của nông sản ở Việt Nam rất cao, chiếm 25,4% tổng sản lượng. Trong đợt bùng phát Covid-19 lần thứ tư, các chuỗi lạnh Việt Nam luôn quá tải, đôi khi hoạt động với hơn 110% công suất. Do đó, nhu cầu cho các chuỗi cung cấp lạnh đang không ngừng tăng lên.

Cung cấp

Thị trường cung cấp chuỗi lạnh của Việt Nam còn ở giai đoạn sơ khai và phân mảnh. Hiện tại, chuỗi cung cấp lạnh cung cấp 48 cơ sở, chia thành 2 nhánh chính: kho lạnh với khoảng 600.000 kệ và vận chuyển lạnh với hơn 700 xe tải đông lạnh. Con số này là rất nhỏ so với lượng nhu cầu đang gia tăng.

dich vu cho thue kho ha noi

Phần lớn kho lạnh chủ yếu nằm ở khu vực phía Nam của Việt Nam, trong đó 60% thị phần nằm trong tay các nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên, cơ hội vẫn mở ra cho các doanh nghiệp tiềm năng trong nước. Theo bà Nguyễn Hồng Vân – Giám đốc Thị trường Hà Nội, Công ty JLL Việt Nam, các nhà đầu tư trong nước có lợi thế về quỹ đất và mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương, thúc đẩy việc thực hiện dự án. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài vượt trội về phát triển sản phẩm, vận hành và tiềm lực tài chính. Do đó, sự kết hợp giữa hai nhóm nhà đầu tư này sẽ là động lực cho sự phát triển của thị trường kho lạnh trong tương lai gần.

Cơ hội

Nhu cầu tăng cao và hệ thống chuỗi lạnh chưa phát triển ở Việt Nam đã tạo ra những cơ hội lớn cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực này. Theo CUSHMAN & WAKEFIELD, thị trường chuỗi lạnh của Việt Nam đạt gần 169 triệu USD vào năm 2019 và dự kiến sẽ đạt 295 triệu USD vào năm 2025 với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (CARG) là 12%. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng này là khiêm tốn so với nhu cầu đang tăng trưởng hiện tại. Thêm vào đó, ông Đào Trọng Khoa – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam – nhận định rằng logistics lạnh (bao gồm kho lạnh) ở Việt Nam là một phân khúc ngách của ngành logistics, trong đó các nhân tố chính trong phân khúc này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, đầu tư vào chuỗi lạnh là hứa hẹn.

Mặc dù ngành chuỗi lạnh còn non trẻ và vẫn được coi là một thị trường ngách, nhưng tình trạng của ngành này có khả năng thay đổi trong vài năm tới và sẽ trở thành một lĩnh vực chính. Do sự khan hiếm của từng loại kho lạnh chuyên dụng, nhu cầu có khả năng vượt quá cung, từ đó làm tăng giá. Theo cách này, những người đến trước trên thị trường kỳ vọng sẽ thu được lợi nhuận vốn cao hơn. Đặc biệt, nếu được sử dụng để mua tài sản ổn định, các nhà đầu tư thận trọng có thể mua kho lạnh với hợp đồng thuê dài hạn. Trong khi đó, nếu các nhà đầu tư nhắm đến tỷ lệ lợi nhuận cao hơn, họ có thể khám phá cơ hội phát triển trong cả dự án xanh và dự án cải tạo để thu lợi nhuận từ đầu tư. Bên cạnh đó, việc xây dựng quan hệ đối tác với các nhà điều hành và người thuê hiện có trước khi bắt đầu dự án sẽ giúp hạn chế rủi ro về tình trạng trống khi hoàn thành dự án. Các nhà đầu tư và chủ sở hữu tài sản cũng có thể xem xét việc chuyển đổi các kho hàng thông thường thành kho lạnh để khai thác sự khác biệt về phí thuê.

Nhận thấy tiềm năng lớn của thị trường kho lạnh, các tập đoàn lớn, doanh nghiệp, và thậm chí các quỹ đầu tư nước ngoài cũng đã tăng cường đầu tư vào việc xây dựng kho lạnh và nhà kho cho xuất khẩu tại Việt Nam. Cụ thể, vào tháng 7 năm 2021, Công ty Kho lạnh AJ Việt Nam đã đưa vào hoạt động kho lạnh cao nhất Việt Nam, nằm trong Khu công nghiệp Long Hậu, chứa 31.000 pallet. Dự kiến, một nhà kho 23.000 pallet sẽ được đưa vào hoạt động vào tháng 5 năm 2022 tại Phố Nối, Hưng Yên.

Nhiều kho lạnh đã được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (HCMC) gần đây. Tại Khu chế xuất Linh Trung (Thành phố Thủ Đức), Tập đoàn ABA Cooltrans đã mở thêm một trung tâm phân phối lạnh với quy mô 10.000 mét và tổng vốn đầu tư 250 tỷ VND. Khi hoàn thành, trung tâm sẽ có khoảng 5.000 mét vuông kho lạnh với công suất 8.000 tấn và có khả năng lưu trữ và vận chuyển hàng hóa đến 1.000 điểm xung quanh khu vực HCMC.

Tại Khu công nghiệp Tân Tạo (Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh), kho lạnh lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á với diện tích gần 4 hecta và tổng vốn đầu tư 1.300 tỷ VND đã được đưa vào hoạt động bởi Công ty Cổ phần Hùng Vương (HVG). Kho này được trang bị 60.000 pallet, với công suất từ 60.000-70.000 tấn hàng hóa. Đồng thời, công ty đang chuẩn bị kế hoạch đầu tư vào một kho lạnh khác tại cảng Hiệp Phước.

Sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam đối với lĩnh vực tiềm năng này.

Dưới tinh thần của Quyết định 899/2013 về sự cần thiết của chuyển đổi nông nghiệp theo hướng giá trị cao và bền vững, và với sự hỗ trợ từ Israel và Hà Lan, các doanh nghiệp nông nghiệp đã sử dụng lao động có tay nghề cao, dẫn đến năng suất cao hơn nhiều. Do đó, dự án ngăn chặn tổn thất sau thu hoạch tạo tiền đề cho các doanh nghiệp và tổ chức áp dụng công nghệ bảo quản hiện đại và tiên tiến như bảo quản lạnh và mát, và bảo quản trong môi trường khí quyển điều chỉnh, từ đó kéo dài thời gian vận chuyển và đảm bảo chất lượng hàng hóa. Do đó, điều này sẽ trở thành động lực cho logistics nông nghiệp.

Tương tự, Nghị định 163/2017/ND-CP về phát triển logistics tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực logistics. Với Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg, các doanh nghiệp xây dựng kho lạnh đủ điều kiện để xin hỗ trợ lãi suất tín dụng đầu tư phát triển và miễn tiền thuê đất cùng với việc nhận 20% hỗ trợ cho giải phóng mặt bằng và 30% cho hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào đầu tư. Năm 2022, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ đề xuất với Chính phủ các cơ chế và chính sách hỗ trợ thuế và lãi suất vay cho các doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống kho lạnh. Gần đây, chính phủ tiếp tục hỗ trợ phát triển hạ tầng ở một số vùng đang phát triển, bao gồm việc triển khai chiến lược cảng thứ ba, các bến đa phương thức, giải pháp đường sắt và xà lan, điều này càng nâng cao triển vọng của các chuỗi lạnh.

Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ thúc đẩy phát triển chuỗi lạnh thông qua các chính sách đầu tư ưu đãi và chương trình ưu đãi đa dạng. Viettonkin đánh giá rằng đây là thời điểm thích hợp cho cả nhà đầu tư nước ngoài và trong nước nắm bắt cơ hội và chiếm lĩnh thị phần lớn. Đầu tư vào ngành này không quá khó khăn với sự giúp đỡ và hỗ trợ từ các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm. Viettonkin tự hào là một trong những công ty tư vấn hàng đầu có thể giúp bạn điều hướng qua quy trình pháp lý để kinh doanh tại Việt Nam. Hãy bắt đầu hành trình của bạn ngay bây giờ!

David Lang
Tác giả

David Lang Founder & CEO, Viettonkin; FDI and Fortune 500 Consultant

Trường (David) Lăng, Founder & CEO of Viettonkin, is a distinguished FDI advisor and Fortune 500 consultant, spearheading thousands of successful investment projects to connect ASEAN economies with the world.

Bản tin

Bài viết hàng tháng, trực tiếp từ bàn làm việc

Một email mỗi tháng. Phân tích chúng tôi chia sẻ với khách hàng trước.

Sẵn sàng mở rộng tại Đông Nam Á?

Trò chuyện với chuyên gia ASEAN đã hướng dẫn hơn 2.000 doanh nghiệp vào khu vực.