Việt Nam coi việc đầu tư vào phát triển hạ tầng là chìa khóa cho sự tăng trưởng kinh tế – xã hội bền vững. Mặc dù có một số thách thức cản trở sự phát triển của hạ tầng, Việt Nam đã thực hiện các biện pháp đáng kể và đang tìm kiếm thêm đầu tư tư nhân để thúc đẩy sự phát triển của mình.
Chính phủ Việt Nam ưu tiên hàng đầu cho phát triển hạ tầng
Sau hơn hai thập kỷ kể từ khi khởi động Đổi Mới, Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển cần nhiều khoản đầu tư chiến lược hơn vào hạ tầng.
Trong thập kỷ qua, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực đáng kể trong việc cải thiện hạ tầng. Họ nhấn mạnh rằng hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Theo dữ liệu xử lý tự động, vào năm 2019, Việt Nam đã chi khoảng 5,7% GDP cho hạ tầng. Con số này đã tăng lên 6% vào năm 2020.
Đối với kế hoạch chiến lược trong giai đoạn 2016-2020, Chính phủ đã phân bổ 2.000 nghìn tỷ đồng (87 tỷ USD) cho đầu tư vào hơn 1.100 dự án, gần một nửa số dự án của năm năm trước. Trong giai đoạn này, tỷ lệ giải ngân trung bình được ước tính là 83,4%, cao nhất là 97,46% vào năm 2020.
Thực tế, mối quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng và tăng trưởng kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ, đặc biệt khi Việt Nam nằm trong số các quốc gia đang nổi trên thế giới. Ngoài ra, phát triển hạ tầng công cộng và giao thông là một bước thiết yếu của Việt Nam để xây dựng các thành phố thông minh và khu đô thị thông minh trong tương lai.
Mặc dù đầu tư luôn quan trọng trong phát triển hạ tầng, nhưng hiệu quả không thể bị bỏ qua. Những năm gần đây đã chứng kiến một số vấn đề lớn trong việc lập kế hoạch và thực hiện một số dự án quy mô lớn ở Việt Nam, dẫn đến sự chậm trễ kéo dài và vượt chi phí. Do đó, Việt Nam đang tìm kiếm thêm đầu tư nước ngoài trong ngành hạ tầng và xây dựng.
Một dự án quy mô lớn đối mặt với sự chậm trễ kéo dài
Đường metro thứ hai của Hà Nội được biết đến với tên gọi Đường metro Nhơn – Ga Hà Nội đã là chiến lược metro đầy tham vọng của Hà Nội trong suốt 13 năm qua. Dự án sẽ thiết lập một hệ thống giao thông công cộng bền vững tích hợp tại sáu quận của Hà Nội bằng cách xây dựng 12,5 km đường ray metro đôi từ Nhơn đến ga đường sắt Hà Nội. Đáng chú ý, nó bao gồm sự kết hợp giữa các đoạn trên cao và ngầm. Tuyến đường đi qua tám ga trên cao và bốn ga ngầm.

Khi hoàn thành, đường metro Nhơn – Ga Hà Nội sẽ tạo điều kiện kết nối giao thông công cộng, nâng cao khả năng tiếp cận tại sáu quận lớn ở Hà Nội, và là một phần quan trọng trong hệ thống giao thông công cộng tiên tiến của Việt Nam.
Mặc dù có tầm quan trọng của nó, dự án đã bị trì hoãn bốn lần kể từ khi được phê duyệt vào năm 2006. Đầu tiên, dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2010. Tuy nhiên, đến tháng 12 năm 2022, chỉ khoảng 95% phần trên cao đã được hoàn thành. Trong khi đó, phần ngầm vẫn đang được xây dựng với chỉ 33% hoàn thành. Trong khi phần trên cao dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động thương mại vào tháng 12 năm 2022, việc thực hiện phần ngầm đã bị trì hoãn gần một năm.
Có một số yếu tố đã cản trở tiến độ của dự án. Trong số đó có việc giải phóng mặt bằng, tác động của đại dịch Covid-19, chính sách không phù hợp và xung đột với các nhà thầu quốc tế về hợp đồng kéo dài và chi phí tăng.
Chính phủ nhận thức rõ tác động của một dự án hạ tầng kéo dài đối với tăng trưởng kinh tế – xã hội. Do đó, gần đây họ đã tích cực phản ứng với tất cả các vấn đề của dự án này.
Vào ngày 13 tháng 8 năm 2021, Ủy ban Nhân dân Hà Nội đã quyết định thành lập một nhóm công tác liên ngành để tăng cường phối hợp và xử lý các vấn đề khó khăn trong quá trình thực hiện dự án nhằm thúc đẩy tiến độ của đường metro Nhơn – Ga Hà Nội.
Hầu hết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hà Nội đã được giải quyết. Ví dụ, quận Ba Đình và Đống Đa đã giải quyết các vấn đề giải phóng mặt bằng. Các vấn đề khác ngoài thẩm quyền của thành phố đã được nhóm công tác quốc gia do Thủ tướng Phạm Minh Chính thành lập xử lý.
Nỗ lực chống lại các rào cản
Một mặt, Chính phủ cho rằng tiến độ kéo dài là do quy hoạch tổng thể và thiết kế dự án kém, thiếu khả năng quản lý và giám sát tại chỗ, khó khăn tài chính và thậm chí là chính sách không phù hợp.
Mặt khác, họ cũng thừa nhận rằng tình hình này có thể cản trở Việt Nam trong việc phát triển hơn nữa trong tương lai. Do đó, trong những năm gần đây, Việt Nam đã thực hiện các biện pháp đáng kể để thúc đẩy phát triển hạ tầng.
Ví dụ, vào ngày 18 tháng 6 năm 2020, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đối tác công tư (PPP) mới thay thế phiên bản trước đó theo Nghị định 63. Có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2021, luật này nhằm thiết lập một khung pháp lý tổng thể cho tất cả các dự án PPP và thu hút thêm đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng của Việt Nam.
Sự hấp dẫn của luật này đến từ sự hỗ trợ của chính phủ, bảo đảm của chính phủ và các ưu đãi đầu tư. Sự hỗ trợ của chính phủ có thể đến dưới nhiều hình thức như hỗ trợ xây dựng các công trình và hệ thống hạ tầng cho một dự án PPP; thanh toán cho giải phóng mặt bằng, bồi thường và tái định cư. Ngoài ra, các ưu đãi đầu tư bao gồm ưu đãi thuế, quyền thế chấp tài sản dự án, quyền sử dụng dịch vụ công, quyền liên quan đến việc mua ngoại tệ và cân bằng ngoại tệ, v.v.
Trong giai đoạn hậu đại dịch, Chính phủ coi hạ tầng công cộng là động lực kinh tế có thể giúp vượt qua những tác động tiêu cực của đại dịch. Thúc đẩy phát triển hạ tầng có thể là chìa khóa để phục hồi kinh tế nhanh chóng. Do đó, họ đã thực hiện các hành động ngay lập tức để loại bỏ các trở ngại trong quá trình thực hiện các dự án hạ tầng.
Phạm Minh Chính, Thủ tướng Việt Nam, đã phê duyệt Quyết định số 548 để thành lập sáu nhóm công tác nhằm thúc đẩy các cơ quan Chính phủ và địa phương tăng tốc độ tiến độ hạ tầng. Trách nhiệm của các nhóm công tác bao gồm xác định các nút thắt và khó khăn của các dự án lớn và đề xuất các biện pháp để cải thiện hiệu quả quản lý vốn nhà nước.
Hơn nữa, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 43/2022/QH15 vào đầu năm 2022. Nghị quyết đã ủy quyền cho các chương trình hỗ trợ tài chính và tiền tệ trị giá tổng cộng 350 nghìn tỷ đồng (15,4 tỷ USD) để hỗ trợ phục hồi kinh tế – xã hội và thích ứng với trạng thái bình thường mới. Nó sẽ có hiệu lực trong giai đoạn 2022-2023.
Cùng với Nghị quyết số 43, Thủ tướng cũng đã gửi một chỉ thị số 126/CD-TTg đến các bộ trưởng và lãnh đạo các tỉnh, thành phố. Chỉ thị nhằm thúc giục họ đảm bảo việc thực hiện nhanh chóng và hiệu quả chương trình phục hồi kinh tế – xã hội trị giá 15,4 tỷ USD đó.
“Mục tiêu sẽ là giải ngân 100% số vốn đã phân bổ trong năm 2022 với chất lượng và hiệu quả cao,” nêu rõ chỉ thị. Sẽ có hình phạt nghiêm khắc đối với các vi phạm bị đình chỉ trong quá trình giải ngân vốn công.
Ngoài ra, Chính phủ cũng yêu cầu một số cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp thu hút thêm đầu tư tư nhân. Ví dụ, Bộ Tài chính đã giảm thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), ngân hàng trung ương của đất nước, đang soạn thảo một nghị định về việc trợ cấp lãi suất cho doanh nghiệp và hộ gia đình.
Tất cả các hành động trên thể hiện nỗ lực đáng kể của Việt Nam để ngăn chặn và loại bỏ các trở ngại gây ra sự chậm trễ trong việc phân bổ, thực hiện và giải ngân vốn.
Không thể phủ nhận rằng, sự đầu tư và nỗ lực đáng kể từ Chính phủ vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của hạ tầng công cộng Việt Nam. Sự phát triển của lĩnh vực này vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Do sự hội nhập của Việt Nam vào thị trường thế giới, Chính phủ sẽ ngày càng chú trọng đến hạ tầng và tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi hơn để thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. Với kiến thức sâu sắc về tình hình phát triển liên quan đến hạ tầng và các chính sách liên quan, Viettonkin có thể cung cấp cho bạn những hướng dẫn quý giá để đưa ra những cơ hội đầu tư khôn ngoan.