Đi đến nội dung
Viettonkin
Phân tích ngành

Hướng dẫn về Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam

Các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam (SOEs) là các doanh nghiệp thuộc sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ Việt Nam. Trong thập kỷ…

David Lang Tác giả Founder & CEO, Viettonkin; FDI and Fortune 500 Consultant
· · Đọc trong 15 phút

Các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam (SOEs) là các doanh nghiệp thuộc sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ Việt Nam. Trong thập kỷ gần đây, Chính phủ đã ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao hiệu quả của SOE. Tuy nhiên, hiệu suất vẫn chưa tương xứng với tiềm năng mà Chính phủ đang nỗ lực lớn để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực này. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trả lời một số câu hỏi cơ bản về SOEs để cung cấp cho bạn một cái nhìn tổng quan về lĩnh vực này.

Các Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam – Tổng quan

Các Doanh nghiệp Nhà nước (SOEs) ban đầu được hình thành trong giai đoạn bao cấp của Việt Nam bởi Chính phủ. Đây từng là lĩnh vực kinh tế hàng đầu trên thị trường Việt Nam. Sau Đổi Mới (1986), chuyển sang mô hình kinh tế thị trường, các doanh nghiệp này bắt đầu được cổ phần hóa để huy động thêm nguồn lực xã hội nhằm trở thành một đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), các Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế của nền kinh tế. Họ có xu hướng ưu tiên một số lĩnh vực kinh tế nhất định, chẳng hạn như sản xuất, xây dựng và thương mại với số lượng cơ sở đáng kể. Hơn nữa, đã có bằng chứng cho thấy các SOEs truyền thống chiếm ưu thế trong các lĩnh vực bao gồm năng lượng, thép, kim loại màu, sản xuất điện và điện tử, hóa chất, phân bón, cao su, chế biến thực phẩm và in ấn.

quốc hội
Ảnh bởi Quochoi.vn

Tuy nhiên, nhằm góp phần vào nền kinh tế Việt Nam, số lượng SOEs đã giảm đáng kể kể từ khi Đổi Mới bắt đầu. Tổng số SOEs đã giảm một nửa từ 12.000 vào năm 1991 xuống còn khoảng 6.000 vào năm 1994. Sự suy giảm này vẫn tiếp tục diễn ra gần đây. Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2017, số lượng SOEs hoạt động đã vượt quá 2.700, giảm 18,3% so với năm 2012.

Như đã ghi nhận vào đầu năm 2021, Việt Nam có khoảng 500 SOEs nắm giữ 100% vốn điều lệ và khoảng 200 SOEs nắm giữ cổ phần chi phối. Loại trừ các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và nông lâm nghiệp, chỉ có 94 SOEs quy mô lớn. Cụ thể, có 9 tập đoàn kinh tế, 67 tổng công ty nhà nước và 18 công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ và công ty con.

Vai trò của SOE trong kinh tế – xã hội Việt Nam là gì?

Ngành SOE là một trong những trụ cột trong nền kinh tế Việt Nam. Năm 2018, theo GSO, ngành này chiếm 28% GDP, đóng góp gần 30% ngân sách nhà nước. Đồng thời, nó cũng chiếm 17% tín dụng ngân hàng và chiếm 60% nợ xấu trong nền kinh tế.

Năm 2021, với khoảng 500 doanh nghiệp hoạt động, SOE chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ – 0,08% tổng số doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, SOEs đã đóng góp 28% tổng thuế và các khoản phải nộp vào ngân sách nhà nước. So với các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, số tiền thuế và phải nộp trung bình của SOEs là 576 tỷ VND (khoảng 24,8 triệu USD), cao gấp 43 lần.

Với hơn 29% GDP của quốc gia đến từ SOE, lĩnh vực này nắm giữ một thị phần đáng kể trong nhiều ngành, bao gồm ngân hàng, viễn thông và năng lượng. Nói cách khác, SOE đóng vai trò quan trọng trong các ngành này. Ví dụ, hiện tại, lên đến 96% người dùng điện thoại di động sử dụng mạng của Viettel, VNPT và Mobifone, 3 nhà cung cấp viễn thông nhà nước hàng đầu. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại nhà nước như BIDV, Vietcombank và Vietinbank chiếm hơn một nửa tổng số tiền cho vay trong toàn bộ ngành ngân hàng.

tòa nhà viettel
Ảnh bởi Người Lao Động

Hơn nữa, SOE đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra và mở rộng hệ thống hạ tầng cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế – xã hội. Nó chiếm 24,6% tổng vốn đầu tư của Nhà nước và 12% tổng vốn đầu tư xã hội trong giai đoạn 2016-2020. Nhiều SOEs cũng đã tham gia cùng Nhà nước trong việc đảm bảo quốc phòng và an ninh. 

Tóm lại, SOEs có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các ngành công nghiệp khác của Việt Nam. Các khoản đầu tư của SOEs vào các lĩnh vực kinh tế quan trọng đã giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước khi thực hiện các dự án lớn. Điều này đã phần nào giúp tái cấu trúc nền kinh tế và cập nhật mô hình tăng trưởng.

Hiệu quả của SOEs như thế nào?

Hiệu quả của SOEs chưa tương xứng với nguồn lực của nó. Mặc dù nắm giữ nguồn lực kinh tế đáng kể, SOEs không có đủ các sáng kiến đầu tư và phát triển để thúc đẩy đổi mới và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. SOEs không thực hiện nhiều dự án quy mô lớn trong giai đoạn 2016 đến 2020. Thay vào đó, họ chỉ tiếp tục làm việc trên các dự án chưa hoàn thành và không hiệu quả từ các giai đoạn trước. Nếu không có năng lực bổ sung, đóng góp của SOE cho nền kinh tế sẽ còn hạn chế hơn trong năm năm tới.

Các nhà kinh tế cho biết rằng ngành SOE chỉ cần tăng trưởng 10% để giúp toàn bộ nền kinh tế mở rộng nhanh hơn. Tuy nhiên, ngành này đã không thể làm như vậy trong nhiều năm. Sự phát triển của SOEs vẫn chưa đạt yêu cầu và mong đợi.

Trong một cuộc họp Chính phủ, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh rằng: “Thành công của các doanh nghiệp nhà nước chỉ giới hạn ở một số lĩnh vực có lợi thế đáng kể, bao gồm khai thác, tài chính-ngân hàng và viễn thông.” Những doanh nghiệp này vẫn chưa nhận ra rằng họ có thể là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, ông nói thêm.

Hơn nữa, việc tái cấu trúc SOEs còn nhiều điều cần cải thiện và lo ngại  vì nó chủ yếu tập trung vào việc thoái vốn nhà nước, thay vì tìm kiếm các giải pháp đổi mới về công nghệ hoặc chiến lược kinh doanh.

Thế giới đang thay đổi nhanh chóng mỗi ngày, điều này mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội. Tuy nhiên, SOEs không thể nắm bắt chúng mặc dù có tiềm năng lớn nhất. Điều này là do thiếu tầm nhìn phát triển, đặc biệt là trong việc tích cực hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu, điều mà Chính phủ đang nỗ lực rất lớn để cải thiện.

Hành động của Chính phủ để phát triển SOEs là gì?

Nói chung, quan điểm của Chính phủ là để SOEs đóng vai trò dẫn dắt trong toàn bộ nền kinh tế và thiết lập  các chuỗi giá trị để tạo ra hiệu ứng lan tỏa cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp để thúc đẩy sự phát triển của SOEs cũng như khuyến khích đầu tư nước ngoài vào SOEs.

Để cải thiện quy mô và hiệu quả của SOEs

Đầu tiên, cải cách SOE hay cổ phần hóa và thoái vốn của Việt Nam đã diễn ra từ những năm 1980. Quá trình cải cách SOE ở Việt Nam được chia thành ba giai đoạn chính: giai đoạn 1980−1986; giai đoạn 1986−2001; và từ 2001 đến nay. Trong 3 giai đoạn này, định giá doanh nghiệp là một trong những bước phức tạp, tốn kém và kéo dài nhất. Đây được coi là một nút thắt cản trở một số lượng lớn SOEs thành công trong việc cổ phần hóa và làm chậm quá trình cải cách.

Vào ngày 17 tháng 3 năm 2022, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án “Tái cấu trúc SOEs, tập trung vào các tập đoàn kinh tế và tổng công ty trong giai đoạn 2021-2025“. Dựa trên công nghệ hiện đại, đổi mới và quản lý theo tiêu chuẩn thế giới, dự án nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các SOEs Việt Nam. Các nhà kinh tế ước tính rằng đây là bước đi đúng đắn của  Chính phủ để giải quyết những điểm yếu cũng như nâng cao những điểm mạnh nhằm bảo vệ và mở rộng vốn trong khu vực nhà nước.

lldm ftqy x
Hình ảnh mặt trước của một chi nhánh của Agribank tại thủ đô Hà Nội. Ngân hàng nhà nước là một trong những doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa vào cuối năm 2020. Ảnh bởi Shutterstock/Asia Images.

Hơn nữa, dự án cũng chỉ ra sự cần thiết phải xác định rõ các ngành và lĩnh vực chính cần có sự hiện diện của SOEs phù hợp với định hướng phát triển bền vững của đất nước, chẳng hạn như năng lượng tái tạo, công nghiệp công nghệ cao và hạ tầng quốc gia quan trọng.

Để khuyến khích vai trò của SOE trong việc dẫn dắt các lĩnh vực kinh tế khác, gần đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã soạn thảo dự án: “Phát triển các SOEs quy mô lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu”. Theo dự án, sẽ có bảy SOEs thuộc loại này. Các SOEs quy mô lớn này phải được quản lý tốt theo tiêu chuẩn quốc tế (OECD). Họ cũng phải có tổng tài sản trên 20.000 tỷ VND, thị phần ít nhất 30%, tỷ lệ hoàn vốn ít nhất 6%, và khả năng làm chủ công nghệ cao.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi cách nhìn nhận về cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước trong các doanh nghiệp. Cổ phần hóa và thoái vốn phải nhằm tăng cường chất lượng, hiệu quả và giá trị của các khoản đầu tư công, không phải để rút tiền nhà nước khỏi SOEs và giảm quy mô và phạm vi của chúng.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài

dnnn
Ảnh bởi VnEconomy

Bởi vì quá trình cổ phần hóa và thoái vốn đã bị chậm lại bởi một số yếu tố, Chính phủ đã tiếp tục ban hành các quyết định mới nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các SOEs và tăng tốc quá trình này.

Vào năm 2019, Bộ Tài chính đã giới thiệu Thông tư số 21/2019/TT-BTC quy định quy trình xây dựng giá. Đây là một quy trình mà trong đó một nhà bảo lãnh cố gắng xác định giá mà một đợt phát hành công khai lần đầu sẽ được chào bán.

Thông tư này có thể giúp các doanh nghiệp xác định được sự quan tâm của thị trường và sức mua trước một giao dịch. Nó cũng cải thiện hiệu quả của các đợt bán công khai đầu tiên của công ty, điều này đặc biệt quan trọng khi liên quan đến một cuộc đấu giá lớn có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài.

Thêm vào đó, Chính phủ cũng đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-NHNN vào tháng 5 năm 2019. Thông tư này cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện việc đặt cọc bằng ngoại tệ khi họ đăng ký tham gia đấu giá SOE. Nó có hiệu lực cho cả việc bán lần đầu của một SOE hoặc thoái vốn nhà nước. Giao dịch có thể được thực hiện tại tất cả các ngân hàng được phê duyệt.

Mặc dù lĩnh vực SOE có vẻ là một cơ hội đầu tư hứa hẹn, nhưng vẫn có khá nhiều thách thức mà các nhà đầu tư phải đối mặt khi tham gia vào thị trường này. Viettonkin tự tin là chuyên gia trong lĩnh vực SOE. Chúng tôi có thể cung cấp cho bạn hướng dẫn và cập nhật về những thay đổi của xu hướng thị trường và các quy định liên quan đến SOE. Hãy liên hệ với chúng tôi ngay bây giờ để tối đa hóa cơ hội thành công của bạn!

David Lang
Tác giả

David Lang Founder & CEO, Viettonkin; FDI and Fortune 500 Consultant

Trường (David) Lăng, Founder & CEO of Viettonkin, is a distinguished FDI advisor and Fortune 500 consultant, spearheading thousands of successful investment projects to connect ASEAN economies with the world.

Bản tin

Bài viết hàng tháng, trực tiếp từ bàn làm việc

Một email mỗi tháng. Phân tích chúng tôi chia sẻ với khách hàng trước.

Sẵn sàng mở rộng tại Đông Nam Á?

Trò chuyện với chuyên gia ASEAN đã hướng dẫn hơn 2.000 doanh nghiệp vào khu vực.