Đến với luật lao động tại Việt Nam, Luật Lao động 2019, được thông qua tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa 14 vào ngày 20 tháng 11 năm 2019, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021, với nhiều nội dung mới liên quan đến quyền lợi của người lao động.
- Luật này xác định các tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện của người lao động, tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.
- Mục tiêu: Người lao động, học nghề, thực tập sinh và người lao động không có quan hệ lao động; người sử dụng lao động; người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
- Luật này đã mở rộng đối tượng áp dụng của người làm việc không có quan hệ lao động.
Dưới đây là một số nội dung mới được quy định trong Luật Lao động 2019:

Chỉ có 2 loại hợp đồng lao động trong luật lao động tại Việt Nam 2021
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, hạn chế việc người sử dụng lao động trốn tránh trách nhiệm, không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động dưới hình thức ký hợp đồng lao động mùa vụ (hoặc giả vờ ký hợp đồng dịch vụ, hợp đồng công việc thay vì hợp đồng lao động mùa vụ) … Điều 20 của Luật Lao động 2021 đã bỏ quy định về hợp đồng lao động mùa vụ hoặc hợp đồng công việc có thời hạn dưới 12 tháng, chỉ còn lại 2 loại hợp đồng: hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động có thời hạn. Trong đó, hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà hai bên không xác định thời hạn và thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
Hợp đồng lao động có thời hạn: là hợp đồng mà hai bên xác định thời hạn và thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.
Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn nhưng người lao động tiếp tục làm việc:
Trong vòng 30 ngày sau khi hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký hợp đồng lao động mới; Trong thời gian chờ ký hợp đồng lao động mới, quyền lợi, nghĩa vụ và lợi ích của cả hai bên sẽ được thực hiện theo hợp đồng đã ký;
Nếu thời hạn 30 ngày hết hạn kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn nhưng hai bên không ký hợp đồng lao động mới, hợp đồng lao động có thời hạn đã ký trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Trong trường hợp hai bên ký hợp đồng lao động mới, là hợp đồng lao động có thời hạn, chỉ được phép một lần nữa, sau đó, nếu người lao động tiếp tục làm việc, phải ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Đặc biệt đối với người lao động cao tuổi, Khoản 1, Điều 149 của Luật Lao động 2021 quy định rằng người sử dụng lao động đã đồng ý ký hợp đồng lao động có thời hạn với người cao tuổi thay vì gia hạn. Thời hạn hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động mới như trước đây.
Xem bài viết liên quan của chúng tôi: Thủ tục nhập cảnh Việt Nam cho người lao động nước ngoài trong bối cảnh đại dịch
Có thể ký hợp đồng bằng hình thức điện tử hoặc bằng lời nói
Theo sự phát triển của khoa học và công nghệ số, cùng với việc kết luận về hợp đồng lao động bằng văn bản và bằng lời nói, Luật Lao động 2019 đã bổ sung hình thức ký hợp đồng lao động qua phương tiện điện tử. Khoản 1, Điều 14 của Luật này quy định rằng: Hợp đồng lao động được ký kết qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động thông thường.
Đồng thời, Khoản 2 Điều 14 của Luật Lao động 2021 quy định rằng hai bên có thể ký hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 1 tháng, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 18, Điểm a Khoản 1 Điều 145 và Khoản 1 Điều 162 của Luật này, thay vì ký hợp đồng lao động bằng lời nói áp dụng cho công việc tạm thời có thời hạn dưới 3 tháng như quy định của Luật Lao động 2012 trước đây.
Các quy định bổ sung về thời gian thử việc
Đối với công việc quản lý, Khoản 1 Điều 25 của Luật Lao động 2021 quy định rằng thời gian thử việc không được vượt quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất và kinh doanh tại doanh nghiệp.
Đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 1 tháng, Khoản 1 và 3, Điều 24 của Luật này quy định rằng người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận thử việc bằng cách ký hợp đồng thử việc; Thời gian thử việc không áp dụng đối với người lao động ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 1 tháng.
Ngoài ra, Luật Lao động 2021 bổ sung 4 trường hợp mà người lao động được quyền hoãn hợp đồng lao động. Cụ thể, Khoản 1 của Điều 30 bổ sung các trường hợp hoãn hợp đồng lao động, bao gồm:
(1) người lao động thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ;
(2) người lao động được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp của công ty TNHH một thành viên có 100% vốn điều lệ do Nhà nước nắm giữ;
(3) người lao động được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
(4) người lao động được ủy quyền thực hiện quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với vốn của doanh nghiệp đầu tư vào doanh nghiệp khác.
Người lao động được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần lý do
Theo luật lao động tại Việt Nam, Điều 35 của Luật Lao động 2021 quy định rằng người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần nêu lý do, nhưng phải thông báo cho người sử dụng lao động trước:
- Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
- Ít nhất 3 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.
Trong một số trường hợp, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần thông báo trước, chẳng hạn:
- Không được sắp xếp theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không đảm bảo điều kiện làm việc như đã thỏa thuận;
- Không được trả lương đầy đủ hoặc đúng hạn;
- Bị ngược đãi, đánh đập, hoặc bị lạm dụng bằng lời nói bởi người sử dụng lao động, hoặc hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự hoặc nhân phẩm;
- Lao động cưỡng bức;
- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
- Người lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;
- Đến tuổi nghỉ hưu, trừ khi các bên có thỏa thuận khác;
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Luật cũng quy định hai trường hợp mà người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần thông báo trước: Khoản 3, Điều 37 của Luật Lao động 2021 quy định rằng người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần thông báo trước trong 2 trường hợp:
- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc trong vòng 15 ngày kể từ ngày hết thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động;
- Người lao động tự ý nghỉ việc mà không có lý do chính đáng trong 5 ngày làm việc liên tiếp trở lên.
Tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình trong luật lao động tại Việt Nam
Cũng theo Luật này, tuổi nghỉ hưu của người lao động sẽ tăng theo lộ trình từ năm 2021. Theo đó, Điều 169 của Luật quy định rằng tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện làm việc bình thường sẽ được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đạt 62 tuổi đối với nam giới vào năm 2028, và 60 tuổi đối với nữ giới vào năm 2035.
Từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện làm việc bình thường là 60 tuổi và 3 tháng đối với nam; đủ 55 tuổi và 4 tháng đối với nữ. Sau đó, mỗi năm, tăng thêm 3 tháng đối với nam giới; 4 tháng đối với nữ giới.
Đối với người lao động có suy giảm khả năng lao động; làm việc trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc các ngành nghề cực kỳ nặng nhọc, độc hại hoặc nguy hiểm hoặc làm việc ở những khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu trước tuổi nghỉ hưu, nhưng không sớm hơn 5 năm.
Điều chỉnh quyền lợi cho ngày nghỉ và giờ làm thêm
Đối với luật lao động tại Việt Nam, Điều 107 của Luật Lao động 2021 quy định rằng giờ làm thêm của người lao động không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày; nếu áp dụng số giờ làm việc hàng tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và giờ làm thêm không được vượt quá 12 giờ/ngày; không quá 40 giờ/tháng; không vượt quá 200 giờ/năm, trừ một số trường hợp đặc biệt, làm thêm không vượt quá 300 giờ/năm.
Như vậy, Luật Lao động 2021 quy định tăng số giờ làm thêm trong một tháng không quá 40 giờ. Giữ nguyên số giờ làm thêm trong năm không quá 200 giờ/năm, trừ một số trường hợp đặc biệt mà giờ làm thêm không vượt quá 300 giờ/năm như quy định trong Luật Lao động 2012.
Trong luật lao động tại Việt Nam, Điều 112 của Luật Lao động 2021 quy định rằng, người lao động được quyền nghỉ phép và hưởng đầy đủ lương trong các ngày lễ và Tết sau: 1 ngày Tết Dương lịch (ngày 1 tháng 1 dương lịch); Tết Nguyên đán 5 ngày; Ngày Chiến thắng 1 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch); Ngày Quốc tế Lao động 1 ngày (ngày 1 tháng 5 dương lịch); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 1 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch). Ngày Quốc khánh được tăng lên 2 ngày (ngày 2 tháng 9 dương lịch và 1 ngày ngay trước hoặc sau, có thể là ngày 1 tháng 9 hoặc ngày 3 tháng 9 tùy theo từng năm).
Trong trường hợp nghỉ phép riêng với đầy đủ lương, trước đây, theo Khoản 1 Điều 116 của Luật Lao động 2012, người lao động được quyền nghỉ phép riêng nhưng vẫn hưởng đầy đủ lương trong các trường hợp sau: Kết hôn; Con kết hôn: 1 ngày nghỉ; cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ hoặc cha chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; Con chết: 3 ngày nghỉ.
Hiện nay, theo Khoản 1, Điều 115 của Luật Lao động 2019, người lao động được quyền nghỉ phép riêng nhưng vẫn hưởng đầy đủ lương và phải thông báo cho người sử dụng lao động trong các trường hợp sau: Kết hôn nghỉ 3 ngày; con đẻ, con nuôi kết hôn: nghỉ 1 ngày; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của chồng hoặc vợ; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 3 ngày.
Như vậy, Luật Lao động 2021 đã bổ sung rằng người lao động được phép nghỉ phép riêng để hưởng lương đầy đủ trong trường hợp con nuôi kết hôn và nghỉ 1 ngày và trong trường hợp cha nuôi và mẹ nuôi chết nghỉ 3 ngày.
Đối với việc thanh toán nếu nghỉ phép hàng năm chưa hoàn thành, Luật Lao động 2021 quy định chỉ có 2 trường hợp được thanh toán: mất việc làm và thôi việc. Luật này bãi bỏ quy định rằng người lao động đang làm việc “vì lý do khác nhưng chưa nghỉ phép hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày phép hàng năm, sẽ được thanh toán bằng tiền cho số ngày chưa nghỉ” như quy định tại Khoản 1, Điều 114 của Luật Lao động 2012.
Vì vậy, đó là cái nhìn tổng quan về những cập nhật mới trong luật lao động tại Việt Nam. Xin đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi nếu bạn gặp bất kỳ trở ngại nào trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn với cam kết toàn diện!