Hiện nay, thị trường lao động tại Việt Nam cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, Covid – 19 đã gây ra những thay đổi lớn đối với các hoạt động nhân sự chung tại Việt Nam, dẫn đến một chuỗi khó khăn trong việc kinh doanh trên thị trường. Vì vậy, dưới đây là 5 thách thức lớn nhất trong việc kinh doanh tại Việt Nam đối với các doanh nghiệp nước ngoài liên quan đến các hoạt động nhân sự:

1. Tỷ lệ lao động có đào tạo nghề và kỹ năng thấp gây ra thách thức trong việc kinh doanh tại Việt Nam
Tính đến năm 2019, theo Tổng cục Thống kê, trên toàn quốc, số người có đào tạo nghề và kỹ năng (có trình độ tối thiểu trở lên) chỉ chiếm 22,8% tổng lực lượng lao động. Tỷ lệ lao động không có bằng cấp/chứng chỉ đào tạo trong các doanh nghiệp FDI chiếm gần 80% số nhân viên và tỷ lệ này hầu như không thay đổi từ năm 2011 đến nay.
Số liệu này vẫn còn rất thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội hiện tại và cũng thấp hơn so với mục tiêu đề ra. Hơn nữa, cơ cấu đào tạo lao động vẫn còn nhiều bất hợp lý. Số lượng lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật còn quá thiếu so với yêu cầu. Số liệu này chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn và khu vực đô thị.
2. Thiếu hụt về số lượng và chất lượng tạo ra thách thức trong việc kinh doanh tại Việt Nam
Nói chung, lực lượng lao động có tri thức tại Việt Nam vẫn còn nghèo nàn cả về số lượng và chất lượng so với thế giới và khu vực. Nhóm lao động khoa học và công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai công nghệ mới, thiếu các mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nhóm lao động quản lý doanh nghiệp trong khu vực tư nhân có ít cơ hội được đào tạo, vì vậy họ có ít kiến thức về thị trường và cơ chế thị trường, trong khi nhu cầu cho loại lao động này đang ngày càng khan hiếm và gay gắt do áp lực thị trường, cạnh tranh và hội nhập. Việt Nam đang thiếu trầm trọng lao động dịch vụ chất lượng cao và công nghệ cao, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, kiểm toán, luật và chủ yếu là công nghiệp. Các doanh nghiệp FDI hiện đang rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam ngay bây giờ.
3. Lao động không kỷ luật là một trong những thách thức trong việc kinh doanh tại Việt Nam liên quan đến các hoạt động nhân sự
Phần lớn lực lượng lao động hiện tại của Việt Nam chưa được đào tạo về kỷ luật lao động công nghiệp. Hầu hết lao động đến từ các vùng nông thôn, vẫn mang theo phong cách làm việc “nặng nề và chậm chạp” của nông nghiệp nhỏ, và có hành vi tùy tiện về thời gian và hành vi. Nhân viên thiếu khả năng làm việc nhóm, không thể hợp tác và chịu rủi ro, sợ phát huy sáng kiến cá nhân và chia sẻ kinh nghiệm làm việc. Hầu hết các doanh nghiệp FDI phải mất nhiều thời gian chỉ để đào tạo lại phong cách làm việc của công nhân trước khi tuyển dụng chính thức.
4. Covid – 19 khiến quản lý lao động gặp khó khăn
Một trong những lý do quan trọng mà các doanh nghiệp FDI chọn Việt Nam là điểm đến khi chuyển nhà máy từ Trung Quốc là nguồn nhân lực dồi dào với kỹ năng cao có thể đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp này.
Tuy nhiên, với số lượng nhân viên khổng lồ, việc vừa đào tạo vừa xây dựng một lực lượng lao động có kỹ năng, phát triển một sự phát triển lâu dài và đảm bảo hoạt động sản xuất và kinh doanh suôn sẻ giữa các phòng ban trong nhà máy không phải là một thách thức nhỏ cho quản lý nguồn nhân lực trong các công ty.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 12 năm 2020, có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch, bao gồm mất việc, nghỉ việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập … Năm 2021 cũng là thời điểm mà các doanh nghiệp trải qua nhiều thay đổi và dành phần lớn thời gian và ngân sách cho việc đào tạo và phát triển nhân viên cốt lõi, thu hút và xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đưa ứng dụng công nghệ vào quản lý doanh nghiệp để chủ động hơn và tìm kiếm cơ hội tăng trưởng mới trong giai đoạn Covid-19 đầy thách thức này.
Còn đối với công việc quản lý trong các nhà máy, các nhà máy của các công ty đa quốc gia nơi tổng số nhân lực lên đến hàng trăm nghìn nhân viên, làm việc trên dây chuyền sản xuất, các nhóm khác nhau, trong các khối. Văn phòng và khối nhà máy, rõ ràng sẽ có những khó khăn, hạn chế và thiếu tính đồng nhất trong giao tiếp và truyền thông nội bộ dẫn đến hiệu quả công việc không cao.
5. Cơ cấu lại nhân sự trong thời kỳ Covid – 19
Điều 36.10 của Bộ luật Lao động năm 2012 (có hiệu lực đến ngày 1 tháng 1 năm 2021, sẽ được thay thế bởi Bộ luật Lao động mới năm 2019) cho phép người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động của nhân viên trong trường hợp sa thải/điều chỉnh do “cơ cấu lại, thay đổi công nghệ, hoặc lý do kinh tế.” Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 1 năm 2015, được sửa đổi vào ngày 28 tháng 7 năm 2018, định nghĩa thêm lý do kinh tế bao gồm suy thoái hoặc khủng hoảng. Do đó, có thể lập luận rằng nếu đại dịch COVID-19 đã dẫn đến một cuộc suy thoái (điều này hiện đang đúng ở Việt Nam), thì việc chấm dứt hợp đồng qua sa thải sẽ là hợp lý.
Tuy nhiên, theo luật lao động Việt Nam, nếu 2 hoặc nhiều nhân viên bị sa thải, người sử dụng lao động phải lập một “kế hoạch sử dụng lao động” cho việc cơ cấu lại, phân biệt ai sẽ bị sa thải, và gửi điều này đến công đoàn địa phương, hoặc công đoàn của chính người sử dụng lao động, nếu có. Người sử dụng lao động sau đó phải chờ sự đồng ý của công đoàn, mà trên thực tế, có thể mất 2 tháng hoặc hơn.
Một số công đoàn địa phương có thể không đưa ra ý kiến rõ ràng về việc họ đồng ý với kế hoạch sử dụng lao động đã được cung cấp, nhưng có thể chỉ trả lời rằng công ty cần lập và thực hiện một kế hoạch sử dụng lao động theo các luật và quy định hiện hành của Việt Nam. Nếu trường hợp này xảy ra, người sử dụng lao động có thể phải làm việc lại với công đoàn địa phương, điều này sẽ mất thêm thời gian.
Cơ quan lao động tỉnh sau đó phải được thông báo về việc chấm dứt hợp đồng của nhân viên ít nhất 30 ngày trước khi việc chấm dứt xảy ra. Do đó, thời gian cho việc cơ cấu lại như vậy thường rất dài.
Mỗi nhân viên bị sa thải phải nhận một tháng lương cho mỗi năm phục vụ (không bao gồm thời gian mà nhân viên tham gia bảo hiểm nhà nước) – và ít nhất 2 tháng lương – như là khoản thanh toán do chấm dứt hợp đồng do sa thải.
Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, có nhiều thay đổi trong các hoạt động nhân sự trên thị trường Việt Nam, đây là một thách thức lớn trong việc kinh doanh tại Việt Nam, đặt ra thách thức cho sự nhạy bén và linh hoạt của doanh nghiệp trong quản lý nguồn nhân lực. Vui lòng liên hệ với chúng tôi nếu bạn cần hỗ trợ toàn diện từ các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này!