Đi đến nội dung
Viettonkin
Kế toán & Tài chính

Chuyển đổi số: Kỷ nguyên mới của ngân hàng

Vào đầu những năm 2000, sự phát triển của công nghệ số cùng với sự phát triển của máy tính và Internet đã đặt ra những thách thức…

Nga Dinh Tác giả Deputy Director of Operations & HR Consultant,
· · Đọc trong 35 phút

Vào đầu những năm 2000, sự phát triển của công nghệ số cùng với sự phát triển của máy tính và Internet đã đặt ra những thách thức cho các tổ chức tín dụng truyền thống. Khi chuyển đổi số đã nổi lên như một phong trào toàn cầu, các tổ chức tín dụng và các công ty fintech đã trở thành những người tiên phong trong những xu hướng số này. Tuy nhiên, do cuộc Khủng hoảng Tài chính Toàn cầu, những sự áp dụng này đã ngừng lại cho đến gần đây. 

Đại dịch COVID-19 đã buộc một sự chuyển đổi nhanh chóng trong các giao dịch và tương tác của khách hàng sang kỹ thuật số. Trong nửa đầu năm 2021, 134,8 triệu khách hàng ngân hàng ở khu vực APAC sẵn sàng chuyển sang các ngân hàng neo hoặc các đối thủ kỹ thuật số mới, tăng 113,2% so với năm trước. Các ngân hàng APAC đã vội vàng đáp ứng mức tăng trưởng trung bình ít nhất 50% trong các giao dịch kỹ thuật số. Cụ thể, 44% trong số 250 ngân hàng hàng đầu ở APAC sẽ hoàn thành việc chuyển đổi “cốt lõi kết nối” – làm việc trên hiện đại hóa dựa trên nền tảng và phân tách thành phần, và cho phép API.

Theo khảo sát của nền tảng ngân hàng đám mây Mambu và The Financial Times Focus (FT Focus), 67% các ngân hàng tin rằng họ sẽ mất thị phần nếu không chuyển đổi số trong 2 năm tới. Ngoài ra, một báo cáo khác của FT Focus đã khảo sát hơn 500 giám đốc ngân hàng toàn cầu để điều tra quan điểm của họ về ngành ngân hàng trong bối cảnh hiện tại và tương lai một cách sâu sắc. Kết quả cho thấy số hóa dịch vụ tài chính là điều thiết yếu, với 58% giám đốc ngân hàng dự đoán sự biến mất của các mô hình ngân hàng truyền thống trong 5 đến 10 năm. Báo cáo cũng chỉ ra rằng khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tốc độ chuyển đổi số chậm nhất so với các khu vực khác trên thế giới. Tuy nhiên, các ngân hàng trong khu vực này đang dần bắt kịp thế giới, với số lượng ngày càng tăng các dự án đầu tư vào dữ liệu lớn, học máy và blockchain. 

Khảo sát Dịch vụ Tài chính Cá nhân năm 2021 định nghĩa ngân hàng kỹ thuật số là việc sử dụng các kênh trực tuyến hoặc di động để thực hiện các hoạt động ngân hàng. Khảo sát cũng tiết lộ rằng trong khi việc áp dụng ngân hàng kỹ thuật số ở các thị trường phát triển như Úc, Hồng Kông và Singapore đã ổn định ở mức khoảng 90% kể từ năm 2017, các thị trường mới nổi, cụ thể là Trung Quốc đại lục, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam, đã chứng kiến sự gia tăng thâm nhập trong vài năm qua, với mức tăng từ chỉ 55% vào năm 2017 lên 88% vào năm 2021.

Người dùng hoạt động của ngân hàng kỹ thuật số
Nguồn: McKinsey

Cũng theo Khảo sát PFS khu vực châu Á – Thái Bình Dương từ McKinsey, hơn 80% người tham gia cho biết họ sẽ tiếp tục sử dụng hoặc sẽ sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng trực tuyến hơn. Trong khu vực mới nổi bao gồm thị trường Việt Nam, chỉ 17% người tham gia sẽ chuyển sang sử dụng dịch vụ từ các ngân hàng kỹ thuật số thay vì ngân hàng truyền thống.

Khách hàng ở khu vực APAC nhanh chóng thích nghi với sự thay đổi và dễ dàng áp dụng các phương thức dịch vụ tài chính mới. Theo cách này, để tồn tại và phát triển, các ngân hàng không có lựa chọn nào khác ngoài việc thực hiện chuyển đổi số 

Trong số 249 ngân hàng kỹ thuật số trên toàn thế giới, APAC có khoảng 50 ngân hàng kỹ thuật số (khoảng 20% tổng số ngân hàng kỹ thuật số trên thế giới), trong đó hơn 70% được thành lập trong các năm từ 2016 đến 2020.

ASEAN – thị trường tiềm năng 

Đông Nam Á và Ấn Độ hiện đang nổi lên như những thị trường mở rộng tiếp theo của các nhà lãnh đạo ở APAC. Tại Đông Nam Á, Malaysia, Philippines, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan đang cho thấy những dấu hiệu khả quan cho các ngân hàng kỹ thuật số, bao gồm sự tự do hóa thị trường tích cực và nhân khẩu học thị trường hấp dẫn. Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng kỹ thuật số ở Đông Nam Á chỉ mới bắt đầu hoặc sắp bắt đầu hoạt động (Fitch Ratings, 2021). Lý do là người dùng Đông Nam Á vẫn chủ yếu lo ngại về vấn đề niềm tin và quyền riêng tư khi áp dụng các dịch vụ kỹ thuật số, cản trở quá trình chuyển đổi số trong các ngân hàng Đông Nam Á.  

Tuy nhiên, tỷ lệ áp dụng các dịch vụ kỹ thuật số gần đây đã tăng đáng kể. Khi 40 triệu người dùng internet mới đã trực tuyến vào năm 2021, ASEAN hiện có tổng cộng 440 triệu người dùng, tăng 10% vào năm 2020, đưa tỷ lệ thâm nhập Internet ở ASEAN lên 75%. Tỷ lệ thâm nhập smartphone cũng đã đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển kỹ thuật số, với hơn 90% trong số 400 triệu người dùng internet trong khu vực kết nối qua điện thoại di động. Bên cạnh đó, việc mở rộng tỷ lệ thâm nhập 4G, cùng với các cơ hội 5G mới nổi, mở khóa thêm tiềm năng cho khách hàng ngân hàng kỹ thuật số kết nối.

Với lợi thế của một dân số am hiểu kỹ thuật số, và mặc dù tỷ lệ thâm nhập ngân hàng cao, vẫn còn chỗ cho sự phát triển đáng kể trong ngân hàng kỹ thuật số của Malaysia, đặc biệt là trong lĩnh vực các cá nhân chưa được phục vụ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hơn nữa, Malaysia gần đây đã mở đơn đăng ký cho giấy phép ngân hàng kỹ thuật số. Thêm vào đó, là quốc gia đông dân nhất Đông Nam Á, nơi một nửa dân số dưới 30 tuổi, Indonesia mang đến một cơ hội thị trường khổng lồ. Với nhu cầu ngày càng tăng đối với các giải pháp dịch vụ tài chính kỹ thuật số, cũng như các quy định hỗ trợ cho các ngân hàng chỉ kỹ thuật số đang được xem xét, quốc gia này đứng thứ hai về tỷ lệ thâm nhập thanh toán điện tử ở Đông Nam Á, chỉ sau Singapore. Tương tự, Philippines có nhân khẩu học khả quan về tiềm năng áp dụng ngân hàng kỹ thuật số, bao gồm một dân số trẻ và tham gia kỹ thuật số. Đến nay, ngân hàng trung ương đã cấp ba giấy phép ngân hàng kỹ thuật số cho Ngân hàng Kỹ thuật số Tonik, UNObank và Ngân hàng Filipino Overseas do nhà nước hỗ trợ.

Trong khi đó, Việt Nam có một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất và một lĩnh vực ngân hàng đang mở rộng nhanh chóng. Hơn 40% dân số hiện đã có tài khoản ngân hàng và thẻ ngân hàng cũng đang chứng kiến sự thâm nhập gia tăng. Mặc dù nhiều ngân hàng đang số hóa, nhưng chưa có một người chiến thắng rõ ràng nào trong lĩnh vực ngân hàng kỹ thuật số xuất hiện. Mặt khác, Thái Lan cung cấp một nền kinh tế ổn định và trưởng thành hơn, với tỷ lệ thâm nhập ngân hàng tương đối cao. Đây cũng là một trong những thị trường dễ tiếp nhận nhất ở Đông Nam Á đối với các ngân hàng thách thức kỹ thuật số.

Tại Việt Nam

Tình hình hiện tại trong việc triển khai ngân hàng kỹ thuật số tại Việt Nam

Về lý thuyết, ngân hàng kỹ thuật số có thể được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn đầu tiên tập trung vào các ngân hàng đa kênh cung cấp nhiều dịch vụ như ngân hàng trực tuyến hoặc ngân hàng di động; giai đoạn thứ hai là giai đoạn đa dạng hóa, tích hợp tất cả các dịch vụ vào một ứng dụng, tạo sự thuận tiện cho người dùng; giai đoạn thứ ba là khi khách hàng có thể sử dụng tất cả các dịch vụ tài chính mà không cần sự hiện diện của một ngân hàng vật lý, và giai đoạn cuối cùng nhấn mạnh việc các ngân hàng cải thiện trải nghiệm và cá nhân hóa cho người dùng. Hiện tại, quá trình chuyển đổi số trong các ngân hàng Việt Nam đang ở giai đoạn đầu với lĩnh vực hoạt động tích cực nhất là thanh toán điện tử và ví điện tử. Mảnh đất hấp dẫn này đã thu hút các ngân hàng thương mại cũng như các công ty công nghệ lớn dần dần thâm nhập vào thị trường. Đến nay, một số ngân hàng đã phát triển hệ thống thanh toán điện tử. Điển hình là ví điện tử Bank Plus với sự hợp tác giữa Viettel và MBBank, và VPBank với Timo (sau này đã bán cho Vietcapital Bank), và Maritime Bank với MEED, LienVietPostbank với Vi Viet. Vào tháng 12 năm 2018, Sacombank đã ra mắt Sacombank Pay, được tích hợp hoàn toàn với các tính năng và tiện ích ngân hàng hiện đại.

Ngân hàng Việt Nam đang số hóa

Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Nhà nước (SBV), tính đến quý 1 năm 2021, khoảng 95% các ngân hàng đã phát triển chiến lược và triển khai chuyển đổi số; Trong đó, 88% dự định số hóa tất cả các sản phẩm và dịch vụ từ các kênh giao tiếp với khách hàng đến quản lý nội bộ. Hầu hết các ngân hàng đã áp dụng các giải pháp và công nghệ kỹ thuật mới trong hoạt động và cung cấp dịch vụ, trong đó 9 trong số 19 hoạt động đã được một số ngân hàng hoàn toàn số hóa. 

Với các dịch vụ ngân hàng cốt lõi (thanh toán, tín dụng, tiết kiệm), và thanh toán trên thiết bị di động đã trải qua mức tăng trưởng hàng năm đáng kể với 90% về số lượng và 150% về giá trị, và nhiều ngân hàng có hơn 90% giao dịch trên các kênh kỹ thuật số, các ngân hàng Việt Nam được coi là có tỷ lệ áp dụng ngân hàng kỹ thuật số lớn nhất trong khu vực (McKinsey). Hơn nữa, người dùng Việt Nam được coi là có tỷ lệ chấp nhận ngân hàng kỹ thuật số và thanh toán kỹ thuật số cao nhất trong khu vực, đạt 82% vào năm 2021, gấp đôi so với năm 2017 (McKinsey). Sự gia tăng này chủ yếu do GenZ và Millennials – một phân khúc khách hàng tiềm năng cho các ngân hàng kỹ thuật số và các đối thủ thách thức. Theo một đánh giá của Morgan Stanley, 80% Gen Z sử dụng ngân hàng kỹ thuật số trên điện thoại thông minh. Do đó, Gen Z sẽ trở thành nhóm khách hàng tiềm năng lớn tiếp theo trong độ tuổi từ 25 đến 40, được coi là thế hệ thiết lập cho sự phát triển tương lai của ngân hàng kỹ thuật số.

SBV dự báo rằng các ngân hàng kỹ thuật số Việt Nam sẽ có ít nhất 10% tăng trưởng doanh thu, và 58,1% các tổ chức tín dụng dự kiến sẽ thu hút hơn 60% khách hàng trong các kênh giao dịch kỹ thuật số với kỳ vọng tỷ lệ tăng trưởng khách hàng sẽ đạt trên 50% trong 3-5 năm tới.

“BCG đánh giá ngân hàng kỹ thuật số là một thị trường đầy hứa hẹn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Việt Nam khi doanh thu của ngành ngân hàng Việt Nam có thể đạt 27 tỷ USD vào năm 2024, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng 13% mỗi năm từ năm 2019, đây là mức tăng trưởng cao nhất ở Đông Nam Á. 

Ông Nirukt Sapru – Cố vấn toàn cầu của Ngân hàng Kỹ thuật số Timo đã coi Việt Nam là một thị trường đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiềm năng cho lĩnh vực ngân hàng kỹ thuật số và đã đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng của lĩnh vực này tại Việt Nam. 

Mặt khác, nhà kinh tế Lê Xuân Nghĩa có quan điểm phê phán về tốc độ phát triển ngân hàng kỹ thuật số tại Việt Nam khi các ngân hàng Việt Nam vẫn đang vật lộn ở điểm khởi đầu của cuộc đua chuyển đổi số trong khi các ngân hàng lớn trên thế giới đã phát triển các ứng dụng tiên tiến để đọc tâm tư của khách hàng qua ánh mắt của họ.”

Thêm vào đó, Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới với 69% người dân không có quyền truy cập vào dịch vụ tài chính và không có tài khoản ngân hàng (Merchant Machine, 2021). Theo đánh giá của Viettonkin, với sự kết hợp của các chính sách hỗ trợ cùng với việc cải thiện khung pháp lý gần đây và việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật số của chính phủ, tiềm năng của thị trường ngân hàng kỹ thuật số tại Việt Nam vẫn còn rất lớn.

Các chính sách và khung pháp lý để phát triển ngân hàng kỹ thuật số

Các chính sách hỗ trợ 

Dịch vụ tiền di động cho phép người dùng thực hiện thanh toán khi mua và bán hàng hóa và dịch vụ mà không cần tiền mặt hoặc tài khoản ngân hàng. Tuy nhiên, giới hạn giao dịch không vượt quá 10 triệu VND/tháng/tài khoản tiền di động cho tổng giao dịch: rút tiền, chuyển tiền và thanh toán. Với việc thực hiện và phát triển tiền di động thông qua Quyết định 316/QD-TTg năm 2021, người dùng ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và vùng hẻo lánh sẽ có quyền truy cập vào dịch vụ tài chính, từ đó thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Mặt khác, các ngân hàng, công ty fintech và các nhà mạng di động có thể hợp tác để cung cấp dịch vụ, và khai thác mạng lưới của VNPT, MobiFone, Viettel cũng như một cơ sở khách hàng với 130 triệu tài khoản di động.

Hơn nữa, vào ngày 15 tháng 11 năm 2021, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 1911/QD-TTg 2021 về việc kết nối và chia sẻ giữa Cơ sở Dữ liệu Dân cư Quốc gia (NPD) và các cơ sở dữ liệu quốc gia khác cũng như các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Mặc dù Quyết định quy định rằng chỉ các cơ quan nhà nước mới được phép truy cập và chia sẻ NPD, nhưng nó ban đầu cho thấy rằng Việt Nam đang hội tụ dữ liệu dân số. Trong tương lai, có thể xây dựng một cơ chế chia sẻ thông tin từ cơ sở dữ liệu này với một số ngành dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, v.v.

Quyết định này sẽ xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về nhận dạng cá nhân theo hướng chia sẻ mở và kết nối với các ngành dịch vụ như ngân hàng, viễn thông, bảo hiểm để giúp xác minh thông tin và danh tính của khách hàng một cách dễ dàng và chắc chắn. Kết quả là, nó sẽ giảm bớt nỗ lực và chi phí cho tất cả các chủ thể trong xã hội, thúc đẩy chuyển đổi số trong nền kinh tế, và cho phép dịch vụ kỹ thuật số nhanh chóng, an toàn, thuận tiện và chi phí thấp đến tay một số lượng lớn người dân và doanh nghiệp. Theo Quyết định này, vào chiều ngày 20 tháng 6 năm 2021, 4 ngân hàng thương mại đầu tiên cùng với Bộ Công an đã ký thỏa thuận khai thác dữ liệu nhận dạng công dân. Khi có nguồn tham khảo từ cơ sở dữ liệu dân số quốc gia, ngân hàng có thể cung cấp hầu hết các sản phẩm cho khách hàng trên kênh ngân hàng kỹ thuật số mà không bị giới hạn theo quy định trong Thông tư 16/2020/TT-NHNN.

Hơn nữa, vào tháng 5 năm 2021, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định 810 về Kế hoạch Chuyển đổi Số của Ngành Ngân hàng đến năm 2025, với tầm nhìn đến năm 2030. CŨNG CÓ CÁC TÀI LIỆU KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN CHUYỂN ĐỔI SỐ CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG. Quyết định đã thiết kế các chiến lược cho sự phát triển của ngành ngân hàng trong cả ngắn hạn và dài hạn, được xây dựng dựa trên tình hình hiện tại và các vấn đề của ngành này trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0. 

  • Tập trung phát triển một Ngân hàng Nhà nước hiện đại, tiên tiến với mô hình tổ chức hợp lý, 
  • Thúc đẩy vai trò điều hành, định hướng và quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng, 
  • Đảm bảo ngành ngân hàng hoạt động đồng bộ, hiệu quả và hiệu suất theo cơ chế thị trường, và thích ứng với những tiến bộ công nghệ của Cách mạng Công nghiệp 4.0.

Chính sách này tạo ra một khung pháp lý cho các tổ chức tín dụng để tăng tốc chuyển đổi số, và thiết lập một hệ sinh thái ngân hàng kỹ thuật số toàn diện với mục tiêu phát triển các mô hình ngân hàng kỹ thuật số và tăng cường tiện ích và trải nghiệm của khách hàng.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng cho phép mở tài khoản thanh toán cá nhân theo phương thức điện tử (eKYC) theo Thông tư 16/2020/TT-NHNN, từ đó khuyến khích người dùng thay đổi thói quen từ giao dịch vật lý sang giao dịch trực tuyến nhằm dẫn dắt một xã hội không dùng tiền mặt. Theo quan điểm của các ngân hàng, việc áp dụng eKYC cũng tiết kiệm chi phí đầu tư vào cơ sở vật chất và nguồn nhân lực so với công việc giấy tờ truyền thống, thúc đẩy chuyển đổi số của ngành ngân hàng.

Các chính sách cải thiện khung pháp lý 

Mặc dù có một tài liệu về cơ sở dữ liệu quốc gia, nhưng cho đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể nào về các phương thức khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia cho các tổ chức tín dụng. Điều này dẫn đến sự lãng phí tài nguyên xã hội khi mỗi tổ chức tín dụng xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu riêng biệt, không truy cập và sử dụng các cơ sở dữ liệu quốc gia, do đó thiếu tính minh bạch, và không phát hiện kịp thời các hành vi gian lận qua hệ thống ngân hàng. Do đó, đề xuất rằng Chính phủ nên có các tài liệu cho phép các tổ chức như ngân hàng, bảo hiểm. Cùng với đó, SBV nên yêu cầu Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho phép các tổ chức tín dụng khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia thông qua một cổng kết nối trực tiếp. Đồng thời, SBV nên đề xuất các quy định bổ sung về việc cung cấp và chia sẻ dữ liệu quốc gia của các tổ chức tín dụng về công dân, doanh nghiệp và đất đai, tài chính, tài sản, thuế, v.v. để góp phần vào tính minh bạch và một nền kinh tế lành mạnh. 

Mặc dù eKYC đã được triển khai và các ngân hàng hiện có thể sử dụng các biện pháp nhận dạng như chụp ảnh thẻ căn cước hai mặt, ghi lại khuôn mặt của một người trực tuyến, nhưng tại Việt Nam, vẫn còn tình trạng làm giả thẻ căn cước. Do đó, khi thực hiện eKYC, các ngân hàng phải truy cập cơ sở dữ liệu quốc gia của Bộ Công an để đảm bảo thông tin chính xác hoặc khai thác thông tin đã được xác thực bởi bên thứ ba. Tương tự, Viettonkin đã đề xuất rằng một cơ chế nên được phát triển để cho phép các ngân hàng xác định khách hàng dựa trên thông tin đã được xác thực của các bên thứ ba với các tiêu chuẩn tương đương, hoặc cơ sở dữ liệu quốc gia, và các cơ sở dữ liệu tổ chức. 

Bên cạnh đó, Việt Nam thiếu các cơ chế thử nghiệm pháp lý (sandbox) để hỗ trợ việc triển khai các công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Đồng thời, cho phép các ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số có một số ngoại lệ trong việc đáp ứng các tiêu chí an toàn và hiệu quả theo quy định của Ngân hàng Nhà nước sẽ giúp các ngân hàng mạnh dạn nghiên cứu và thử nghiệm những điều mới. Do đó, Chính phủ Việt Nam nên ban hành một DỰ THẢO về Nghị định về Quy định Sandbox cho Fintech trong lĩnh vực ngân hàng.

Rào cản của chuyển đổi số trong ngân hàng là hạ tầng bảo mật vì an ninh dữ liệu còn yếu. Về việc bảo vệ dữ liệu người dùng, việc thực thi các quy định gặp khó khăn mặc dù Luật An toàn Thông tin Mạng đã dành một phần riêng để quy định về việc bảo vệ thông tin cá nhân trên internet. Do đó, Chính phủ Việt Nam nên xây dựng các quy định về bảo vệ dữ liệu người dùng, danh tính kỹ thuật số, và một liên minh eKYC, cùng với việc hoàn thiện các quy định về an toàn giao dịch, an ninh thông tin, và các quy định chi tiết về chữ ký điện tử, chứng thư điện tử, và giao dịch điện tử theo các thực tiễn quốc tế. Thêm vào đó, Bộ Công an đang trình Chính phủ một đề xuất phát triển một Nghị định riêng về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghị định này dự kiến sẽ là một khung pháp lý toàn diện về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường trực tuyến hiện tại.

Tương tự, không có sự thống nhất trong định nghĩa về tài sản kỹ thuật số, và định nghĩa về chứng cứ trong các hợp đồng điện tử trong lĩnh vực tài sản kỹ thuật số, hoặc định nghĩa về giao dịch điện tử, giao dịch kỹ thuật số,  và tính toàn vẹn và tính nguyên bản của chứng cứ kỹ thuật số. Vì lý do này, khi có tranh chấp hoặc vi phạm hành chính hoặc hình sự, các ngân hàng phải đối mặt với nhiều vấn đề. Do đó, cần có một tài liệu để mở rộng hiểu biết về Tài sản bao gồm tài sản kỹ thuật số trong Bộ luật Dân sự. 

Khi nói đến Luật Sở hữu trí tuệ, khái niệm bí mật kinh doanh vẫn còn rất chung chung và trừu tượng. Điều này dẫn đến những tranh cãi về việc liệu dữ liệu có nên được coi là bí mật thương mại và cơ chế bảo vệ nào nên được áp dụng. Trên thực tế, đã có tình trạng đánh cắp dữ liệu, nhưng các cơ quan nhà nước vẫn còn do dự trong việc coi dữ liệu là một loại tài sản trí tuệ cần được bảo vệ. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ đang trong quá trình xem xét và sửa đổi và việc công nhận và bảo vệ sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế kỹ thuật số cần được tập trung. Chính phủ cũng nên 

  • Sửa đổi Luật Giao dịch Điện tử theo hướng bổ sung các nội dung mới của nền kinh tế kỹ thuật số phù hợp với yêu cầu phát triển của lĩnh vực này; 
  • Soạn thảo Nghị định của Chính phủ về quản lý nền kinh tế nền tảng và kinh doanh trên Internet; 
  • Hoàn thiện và ban hành Nghị định về nhận dạng và xác thực điện tử; 
  • Hoàn thiện và trình phê duyệt Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân; 
  • Ban hành các văn bản pháp lý về quy tắc ứng xử trong môi trường kỹ thuật số cũng như các quy định để tạo niềm tin và đánh giá tín dụng trong không gian mạng.

Các chính sách về xây dựng hạ tầng kỹ thuật số 

Chiến lược Phát triển Ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, Định hướng đến năm 2030, và Chiến lược Phát triển CNTT của Ngành Ngân hàng Việt Nam đã xác định công nghệ là giải pháp hàng đầu cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng, trong đó các mục tiêu là tập trung vào phát triển các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng dựa trên công nghệ thông tin hiện đại; phát triển hạ tầng CNTT, an toàn và bảo mật. Những chiến lược này giúp thay đổi nhận thức của công chúng, coi hạ tầng công nghệ là chìa khóa trong chuyển đổi số.

Chiến lược Phát triển Ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, Định hướng đến năm 2030, và Chiến lược Phát triển CNTT của Ngành Ngân hàng Việt Nam đã xác định công nghệ là giải pháp hàng đầu cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng, trong đó các mục tiêu là tập trung vào phát triển các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng dựa trên công nghệ thông tin hiện đại; phát triển hạ tầng CNTT, an toàn và bảo mật. Những chiến lược này giúp thay đổi nhận thức của công chúng, coi hạ tầng công nghệ là chìa khóa trong chuyển đổi số.

Theo các chiến lược, Ủy ban Chi nhánh của Bộ Thanh toán chỉ đạo ưu tiên các nhiệm vụ cụ thể sau: 

  • tập trung vào xây dựng và phát triển hạ tầng công nghệ theo hướng đồng bộ, tập trung, thống nhất, có khả năng tích hợp và kết nối với các ngành và lĩnh vực khác để cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trên các nền tảng kỹ thuật số, và cải thiện chất lượng dịch vụ, các tính năng tiện lợi, và trải nghiệm cho khách hàng.
  • tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hạ tầng công nghệ cho việc cung cấp các sản phẩm kỹ thuật số bằng cách nâng cấp và hoàn thiện Hệ thống Thanh toán Điện tử Liên ngân hàng, Nhà thanh toán Tự động để phục vụ khách hàng trong các giao dịch bán lẻ (ACH) với hoạt động 24/7, 
  • xử lý thanh toán ngay lập tức (thời gian thực), và tăng cường tích hợp, kết nối với các ngành và lĩnh vực khác. 
  • đồng thời, tăng cường an ninh và bảo mật trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng. 
  • Chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chip.

Cụ thể, những nhiệm vụ này thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt là thanh toán qua điện thoại, đồng bộ phát triển hạ tầng cho thanh toán kỹ thuật số, và phổ cập tài chính đến tất cả mọi người. Do đó, chúng có thể thúc đẩy sự phát triển của hệ thống chuyển mạch và thanh toán điện tử cho các giao dịch thanh toán bán lẻ theo hướng thiết lập một hạ tầng thanh toán thống nhất, đồng bộ có khả năng tích hợp và kết nối các ngành và lĩnh vực, từ đó mở rộng hệ sinh thái kỹ thuật số.

Thêm vào đó, dự án “Đường lối và chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã tiếp thu và tổng hợp đầy đủ tất cả ý kiến để trình lên Trung ương vào năm 2022. Dự án sẽ thúc đẩy việc ứng dụng mô hình điện toán đám mây; ưu tiên sử dụng các giải pháp hạ tầng kỹ thuật số do các đơn vị trong nước phát triển. Để phát triển hạ tầng phục vụ các hệ thống quan trọng, cần giao cho các doanh nghiệp nhà nước lớn có uy tín với kinh nghiệm và nguồn nhân lực để thực hiện. Hơn nữa, dự án này thúc đẩy hạ tầng viễn thông, và công nghệ thông tin về tốc độ, để đáp ứng yêu cầu phát triển Internet of Things trong chuyển đổi số.

Đại dịch và nhu cầu cao về dịch vụ ngân hàng trực tuyến, cũng như mức độ sử dụng di động cao trong dân số Việt Nam, đã thúc đẩy số lượng giao dịch trực tuyến, từ đó tăng tốc quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng. Đây, do đó, là bước ngoặt cho các ngân hàng Việt Nam khi có những cơ hội to lớn để phát triển và bắt kịp các xu hướng số.

Viettonkin Consulting có thể giúp gì cho bạn?

Nếu bạn quan tâm đến việc đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng kỹ thuật số, vui lòng liên hệ với đội ngũ tư vấn viên của Vietonkin qua email hoặc trang liên hệ. Các chuyên gia của chúng tôi, những người am hiểu về thị trường và pháp luật Việt Nam, có thể cung cấp tư vấn chi tiết giúp các công ty fintech điều hướng qua các quy trình pháp lý để thiết lập kinh doanh tại Việt Nam. 

Nga Dinh
Tác giả

Nga Dinh Deputy Director of Operations & HR Consultant,

With more than 10 years’ experience in human resources and operations management, Đinh Kim Nga drives operational excellence and business strategy at Viettonkin. She oversees companywide initiatives and HR consulting, ensuring alignment with the Board’s vision and optimal efficiency across all departments.

Bản tin

Bài viết hàng tháng, trực tiếp từ bàn làm việc

Một email mỗi tháng. Phân tích chúng tôi chia sẻ với khách hàng trước.

Sẵn sàng mở rộng tại Đông Nam Á?

Trò chuyện với chuyên gia ASEAN đã hướng dẫn hơn 2.000 doanh nghiệp vào khu vực.